1. Căn cứ từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng

Điều 21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về những khả năng dẫn đến sự không vô tư của những người tiến hành tố tụng và những khả năng này là căn cứ để từ chối hoặc buộc phải thay đổi những người tiến hành tố tụng, và được quy định cụ thể như sau:

1.1 Những căn cứ chung

Bao gồm những căn cứ sau đây:

- Người tiến hành tố tụng đồng thời là bị hại, đương sự, là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo. Những người này ở những mức độ và phạm vi khác nhau đều có lợi ích liên quan đến vụ án nên không thể đồng thời là người tiến hành tố tụng được.

- Người tiến hành tố tụng đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án hình sự đó. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thù người tiến hành tố tụng không được thực hiện những hoạt động tố tụng hình sự theo chức năng, nhiệm vụ của mình nếu họ đã tham gia vào vụ án đó với tư cahs là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật. Những người này tham gia tố tụng nhằm bảo vệ công lý nên luật Tố tụng hình sự không để họ tiến hành tố tụng trong cùng vụ án để tránh những định kiến chủ quan của người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự.

- Có căn cứ rõ ràng để cho rằng những người tiến hành tố tụng có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Đây là một căn cứ để mang tính khái quát và dự liệu các tình huống có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có thể dẫn đến sự không vô tư của những người tiến hành tố tụng.

1.2 Những căn cứ cụ thể đối với người tiến hành tố tụng

Bao gồm những căn cứ sau:

- Một người không được giữ nhiều tư cách của người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án. Điều này được quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51; điểm b Khoản 1 Điều 52; điểm c Khoản 1 Điều 53, điểm b Khoản 1 Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Thẩm phán và Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi nếu đã than gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ án đó, điều này được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 53 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Thẩm phán và Hội thẩm cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau. Khi xét xử ra bản án hoặc quyết định các thành viên của Hội đồng xét xử nếu có mối quan hệ thân thích sẽ ảnh hưởng đến việc biểu quyết theo đa số. Vì vậy Luật tố tụng hình sự buộc những người có mối quan hệ thân thích trong cùng một Hội đồng xét xử phải từ chối hoặc bị thay đổi.

2. Quyền đề nghị, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

Theo quy định cảu Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khi có những căn cứ đã được phân tích ở trên người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng nếu không họ sẽ bị buộc thay đổi.

Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về những người có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, cụ thể như sau:

“Điều 50. Người có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

1. Kiểm sát viên.

2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.

3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự”.

Đại diện của nhà trường, tổ chức tham gia có quyền yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trong phiên tòa xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 420 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

Ðiều 420. Việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức

1. Người đại diện của người dưới 18 tuổi, thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Ðoàn thanh niên, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

2. Người đại diện của người dưới 18 tuổi được tham gia việc lấy lời khai, hỏi cung người dưới 18 tuổi; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan đến việc buộc tội người dưới 18 tuổi trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều này khi tham gia phiên tòa có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; phát biểu ý kiến, tranh luận; khiếu nại các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các quyết định của Tòa án”.

3. Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

Khi có những căn cứ để thấy rằng việc giải quyết vụ án có thể không vô tư, những người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định từ chối hoặc bị thay đổi. Ở mỗi giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau, những người có quyền thay đổi cũng như thủ tục thay đổi cũng khác nhau, cụ thể được xác định như sau:

- Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

“Điều 51. Thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra

2. Việc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra do Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định.

Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì việc điều tra vụ án do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành”.

Như vậy trong giai đoạn điều tra Điều tra viên, Cán bộ điều tra nếu có căn cứ từ chối hoặc bị thay đổi thì việc thay đổi do Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định. Nếu Điều tra viên là Thủ trường Cơ quan điều tra thì việc điều tra do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.

- Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên Tòa do Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định. Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định. Trong trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

“Điều 52. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

1. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa”.

- Trong giai đoạn xét xử, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên toàn do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định. Nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên Tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng Nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được quyền trình bày ý kiến của mình. Hội đồng quyết định theo đa số, trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Điều này được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

“Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm

1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.

Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa”.

- Đối với việc thay đổi Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định. Việc thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định. Trường hợp phải thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên Tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngưng  phiên tòa căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

“Điều 54. Thay đổi Thư ký Tòa án

1. Thư ký Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Việc thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.

Trường hợp phải thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa”.

Luật Minh Khuê