1. Khái niệm độc quyền hành chính trong kinh doanh.

Độc quyền là hiện tượng trên thị trường chỉ có một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp câu kết với nhau chiếm vị trí độc tôn trong việc cung cấp sản phẩm nhất định nào đó, cho phép họ kiểm soát trọn vẹn giá cả sản phẩm để thu lợi nhuận tối đa và ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác thâm nhập thị trường.
Độc quyền là hậu quả tất yếu của quá trình cạnh tranh không được định hướng và điều chỉnh: từ cạnh tranh lành mạnh chuyển sang cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới cạnh tranh mang tính độc quyền và cuối cùng xuất hiện độc quyền. Độc quyền làm tê liệt cạnh tranh lành mạnh, kìm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng, tác động xấu đến công bằng xã hội, tạo sức ì đối với chính bản thân các doanh nghiệp độc quyền.
Từ tự do cạnh tranh dẫn tới độc quyền, theo con đường truyền thống mà kinh tế học chỉ ra thì độc quyền bắt nguồn từ sự tập trung và tích luỹ tư bản. Tuy nhiên, đó chưa phải là con đường duy nhất có thể dẫn tới độc quyền. Trong một số trườnghợp, nhờ quyền lực chính trị - xã hội mà một doanh nghiệp, tập đoàn có thể giành được quyền kinh doanh một số mặt hàng nhất định, còn các nhà đầu tư khác muốn tham gia kinh doanh trong những lĩnh vực đó thì không được phép. Như vậy độc quyền luôn gắn với chủ trương của nhà nước với tư cách là người nắm giữ quyền lực chính trị. Trong các nước đang có nền kinh tế chuyển đổi, độc quyền do chính sách nhà nước tạo ra là tương đối phổ biến.
Như vậy “Độc quyền hành chính” trong lĩnh vực kinh doanh có thể được hiểu là việc một chủ thể kinh doanh có được vị thế độc quyền nhưng không phải do sức mạnh kinh tế mà do sự tác động của quyền lực nhà nước. Độc quyền hành chính xuất hiện khi nhà nước và các cơ quan nhà nước lạm dụng quyền lực của mình thực hiện những hành vi nhằm phá huỷ và ngăn cản cạnh tranh một cách bình thường, và nó là kết quả của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Bằng những văn bản pháp quy, các quyết định hành chính và hành vi hành chính, các cơ quan công quyền và công chức nhà nước khi thi hành công vụ đã can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra những lợi thế đặc biệt cho một số doanh nghiệp nhất định về thị trường, tín dụng, khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên… nhằm tạo ra vị thế độc quyền cho các doanh nghiệp này, đồng thời, gây cản trở, khó khăn cho hoạt động kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp khác.
Độc quyền hành chính khác biệt so với độc quyền kinh tế không những từ chủ thể, phương thức và mục đích độc quyền mà còn khác nhau về điều kiện phát sinh ra độc quyền. Nếu chủ thể của độc quyền kinh tế là các doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp thì chủ thể của độc quyền hành chính là nhà nước và các cơ quan trực thuộc. Nếu phương thức thực hiện của độc quyền kinh tế là sử dụng sức mạnh kinh tế, quyền lực thị trường để tự do mua, bán, thoả thuận phân chia thị trường, ngăn cản các đối thủ cạnh tranh khác tham gia vào thị trường thì phương thức của độc quyền hành chính là sử dụng quyền lực hành chính. Mục tiêu của độc quyền kinh tế là tìm kiếm lợi nhuận riêng cho từng tổ chức kinh doanh còn mục tiêu của độc quyền hành chính là mang lại lợi ích không chỉ cho các doanh nghiệp mà còn cho cả một cơ quan hay một vùng miền cụ thể. Bởi vì độc quyền hành chính có được quyền lực áp đặt nhà nước một cách hợp pháp, nó mang lại nhiều tổn hại hơn là lợi ích so với độc quyền kinh tế và nó khó khăn hơn trong việc điều chỉnh, giám sát, và loại bỏ một cách hữu hiệu.

2. Đặc điểm của độc quyền hành chính trong kinh doanh.

2.1 Độc quyền hành chính trong kinh doanh là một hình thức ngăn cản và phá hủy cạnh tranh:

Độc quyền hành chính làm phá vỡ môi trường cạnh tranh bình đẳng, làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh- một nguyên tắc đã được
Hiến pháp quy định và bảo vệ. Sự phân biệt đối xử không chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp công và tư mà còn giữa các đơn vị hành chính lãnh thổ. Từ đó sẽ làm cho chính các doanh nghiệp trong nước cũng không thể phát triển được mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ không mặn mà. Ngoài ra, quyền hành chính làm ảnh hưởng tới mô hình tiêu thụ và cấu trúc của thị trường, làm lãng phí sâu sắc và gây hại đến các nguồn lực xã hội, xâm hại nghiêm trọng những quyền lợi từ thị trường mà đáng lẽ người tiêu dùng phải là người được hưởng lợi.

2.2 Chủ thể của độc quyền hành chính trong kinh doanh

Chủ thể gây ra độc quyền hành chính: là những đối tượng có trong tay quyền lực nhà nước, đó có thể là chính bản thân nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước, các cán bộ, công chức nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội khi được nhà nước trao quyền quản lý nhà nước. Nhà nước, với tư cách là người đại diện cho quyền lực chính trị, trong các thời kỳ khác nhau, khi nhà nước đưa ra các chính sách hoặc thay đổi các chính sách của mình đều có khả năng tạo ra độc quyền hành chính. Cơ quan nhà nước là cơ quan được trao quyền lực để thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội, kinh tế. Các quyết định hành chính, các cơ quan này có khả năng rất lớn trong việc tác động vào hoạt động kinh doanh và tạo ra độc quyền hành chính. Các cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình thi hành công vụ của mình, bằng các quyết định hành chính hay hành vi hành chính cũng có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp, tạo ra những thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cuối cùng là các tổ chức chính trị hay chính trị

- xã hội. Nếu các chủ thể này trong qua trình hoạt động được trao quyền quản lý nhà nước thì , với quyền lực được giao, khả năng gây ra những tác động tới môi trường cạnh tranh là hoàn toàn có thể.
Người được thu hưởng những lợi ích đặc biệt do độc quyền hành chính mang lại chính là các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp hoặc hiệp hội ngành nghề). Về mặt nguyên tắc thì các doanh nghiệp này có thể thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, tuy nhiên trên thực tế thì chủ yếu là khối doanh nghiệp nhà nước là hay xảy ra hiện tượng độc quyền hành chính.

2.3 Mục đích

Các chủ thể hướng tới tìm kiếm lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp mình, ngoài ra độc quyền hành chính còn có mục tiêu tạo ra những lợi ích riêng biệt cho một cơ quan hay một vùng miền, một đơn vị hành chính lãnh thổ. Đôi khi chính những lợi ích lớn và lâu dài như vậy mới thúc đẩy độc quyền hơn là những lợi ích riêng lẻ.

Có thể thấy độc quyền hành chính trong kinh doanh là một trong những nguyên nhân, điều kiện cho sự xuất hiện và tồn tại của tham nhũng: với quyền lực được giao, cơ quan, tổ chức, cá nhân rất dễ lạm dụng quyền lực đó để trục lợi cho cá nhân hay đơn vị mình. Đối với các chủ thể được hưởng lợi từ độc quyền hành chính thì họ có xu hướng muốn duy trì các lợi thế đó và từ đó tất nhiên là phải tìm đến những sự liên hệ từ các chủ thể có quyền lực trong tay từ đó gây ra tình trạng phân biệt đối xử với các doanh nghiệp khác. Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa bộ máy nhà nước. Và như vậy ở một khía cạnh nào đó thì độc quyền hành chính cũng chính là một dạng tham nhũng bởi nó cũng xuất phát từ quyền lực nhà nước và mục tiêu cũng là lợi ích kinh tế hoặc quyền lực. Nếu độc quyền xảy ra để đem lại lợi ích cho cá nhân, nhóm hay doanh nghiệp nào đó thì có thể dễ phát hiện và xử lý bằng các chế tài hành chính, dân sự hay hình sự, nhưng nếu độc quyền hành chính được tạo ra không phải xuất phát từ sự lạm quyền vì mục đích tư lợi mà xuất phát từ những lợi ích cục bộ của một ngành, lĩnh vực, địa phương thì cơ chế xử lý sẻ trở nên phức tạp hơn nhiều.

3. Giải pháp kiểm soát độc quyền hành chính trong kinh doanh.

Vấn đề thứ nhất, sự tồn tại một số quy định của pháp luật và các chính sách kinh tế đã tạo ra độc quyền cho các doanh nghiệp nhà nước.  Đối với vấn đề này cần thấy rằng: trong những hoàn cảnh nhất định, sự tồn tại của rào cản thị trường do pháp luật tạo ra là cần thiết. Điều này được chứng minh ở chỗ, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận sự tồn tại của độc quyền nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đến lợi ích công cộng hoặc an ninh quốc phòng. Ví dụ như
Chính phủ Australia “thừa nhận rộng rãi sự độc quyền nhà nước trong các lĩnh vực cấp nước, điện lực, đường sắt, đường bộ, bưu chính, viễn thông. Việc thừa nhận độc quyền nhà nước trong các lĩnh vực này được giải thích dựa trên cơ sở là các hoạt động nói trên là hình thức độc quyền tự nhiên”. Ở Việt Nam hiện nay, Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Nhà nước nắm độc quyền trong các lĩnh vực dịch vụ công ích, trong những ngành công nghiệp then chốt có liên quan mật thiết tới đời sống kinh tế - xã hội hoặc an ninh, quốc phòng như điện lực, viễn thông, cảng biển, thuốc lá, cấp thoát nước, sản xuất vũ khí, thuốc nổ... Thời gian tới, Chính phủ nên cụ thể hoá những quy định này bằng cách đưa  ra danh mục các lĩnh vực độc quyền nhà nước để bảo đảm tính rõ ràng của pháp luật và tránh được việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ cũng nên thông tin kế hoạch cụ thể đối với việc xoá bỏ độc quyền trong những ngành nghề nhất định. Thực tế cho thấy rằng, những lĩnh vực thuộc về độc quyền nhà nước không phải giống nhau cho mọi quốc gia và cũng không tồn tại ổn định cho mọi thời kỳ, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi nước.
Tuy thế, pháp luật nên quy định theo hướng nhà nước sẽ nắm giữ độc quyền trong các lĩnh vực liên quan đến độc quyền tự nhiên và các lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh (sẽ được thành lập theo quy định của Luật Cạnh tranh) cần rà soát lại các văn bản pháp luật để tìm ra những quy định về hạn chế cạnh tranh bất hợp lý, qua đó, đề xuất cơ quan ban hành văn bản đó sửa đổi hoặc huỷ bỏ cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường nước ta. Chính sách về việc thành lập các tập đoàn kinh tế cũng là vấn đề cần xem xét. Các tập đoàn kinh tế khi được thành lập sẽ có sức mạnh rất lớn và có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, cùng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế, nên có các quy định để khuyến khích hơn nữa các công ty nước ngoài bao gồm cả các tập đoàn kinh tế đa quốc gia tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường liên quan ở Việt Nam. Điều đó vừa bảo đảm được tính cạnh tranh của nền kinh tế đồng thời tạo môi trường cho các tập đoàn kinh tế nước ta phát triển.
Vấn đề thứ hai, pháp luật chưa có sự phân định rõ việc sử dụng các “phương tiện thiết yếu” liên quan đến độc quyền tự nhiên, vì thế đã biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.
Nên có quy định tách các yếu tố độc quyền tự nhiên ra khỏi các hoạt động cạnh tranh tiềm năng đó. Ví dụ như dịch vụ cung cấp cơ sở hạ tầng viễn thông, hoạt động truyền tải điện, dịch vụ cung cấp nhà ga sân bay lần lượt phải được tách khỏi dịch vụ viễn thông, sản xuất điện, và dịch vụ vận tải hàng không. Chính phủ nên thành lập các doanh nghiệp nhà nước riêng rẽ để quản lý các yếu tố độc quyền tự nhiên đó. Cùng với việc làm này, Chính phủ nên ban hành các quy định về việc sử dụng “phương tiện thiết yếu” liên quan đến độc quyền tự nhiên. Trước hết, các doanh nghiệp độc quyền tự nhiên nắm giữ các “phương tiện thiết yếu” nên giao cho các Bộ chuyên ngành quản lý. Ví dụ như Bộ Giao thông vận tải sẽ kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp quản lý nhà ga sân bay, Bộ Công nghiệp sẽ quản lý cácdoanh nghiệp nắm giữ hệ thống truyền tải điện... Thêm vào đó, cũng cần thấy rằng, không nhất thiết trong mọi trường hợp các doanh nghiệp quản lý “phương tiện thiết yếu” liên quan đến độc quyền tự nhiên đều phải đáp ứng yêu cầu việc sử dụng các cơ sở đó.
Vì vậy, cần có các quy định về lĩnh vực này. Cụ thể là, nên quy định theo hướng các doanh nghiệp đó không phải chịu trách nhiệm cung cấp “phương tiện thiết yếu” cho các doanh nghiệp khác trừ khi có nhu cầu cần thiết để đẩy mạnh sự cạnh tranh có hiệu quả cho nền kinh tế. Ví dụ như, khi nhà ga sân bay đã làm việc hết công suất, các doanh nghiệp độc quyền tự nhiên không có trách nhiệm cung cấp các “phương tiện thiết yếu” ngay cả khi có yêu cầu của một nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng không.