- 1. Quy định của pháp luật về việc sĩ quan quân đội kết hôn với người theo đạo
- 1.1. Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình
- 1.2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- 1.3. Những yêu cầu đặc thù đối với sĩ quan quân đội
- 2. Sĩ quan quân đội có được phép theo đạo hay không?
- 3. Giải đáp thắc mắc: Bộ đội có được lấy vợ theo đạo Thiên Chúa không?
- 4. Những trường hợp cần lưu ý khi sĩ quan quân đội kết hôn với người theo đạo
- 4.1. Không đáp ứng điều kiện kết hôn
- 4.2. Trường hợp liên quan đến tiêu chuẩn chính trị
- 4.3. Trường hợp có yếu tố nước ngoài
- 4.4. Trường hợp sĩ quan làm việc tại vị trí trọng yếu, cơ mật
- 5. Thủ tục thẩm tra lý lịch và xác minh đối tượng kết hôn trong quân đội
- 5.1. Báo cáo việc dự định kết hôn
- 5.2. Kê khai lý lịch
- 5.3. Thẩm tra, xác minh
- 5.4. Xem xét kết quả theo quy định của đơn vị
- 5.5. Đăng ký kết hôn
Việc sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam kết hôn với người theo đạo Thiên Chúa cần được xem xét đồng thời dưới góc độ pháp luật về hôn nhân và gia đình, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và những yêu cầu đặc thù đối với sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Về nguyên tắc, pháp luật hiện hành không quy định người theo đạo Thiên Chúa thuộc trường hợp bị cấm kết hôn với sĩ quan quân đội. Tuy nhiên, do đặc thù nghề nghiệp, sĩ quan còn phải tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn chính trị, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quản lý cán bộ và những quy định nội bộ có liên quan đến vị trí công tác.
1. Quy định của pháp luật về việc sĩ quan quân đội kết hôn với người theo đạo
1.1. Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình
Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định nam, nữ kết hôn với nhau phải đáp ứng các điều kiện:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nghiêm cấm các hành vi như kết hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép, lừa dối hoặc cản trở kết hôn; vi phạm chế độ một vợ một chồng; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ huyết thống thuộc phạm vi pháp luật cấm.
Pháp luật không quy định việc một bên theo đạo Thiên Chúa hoặc hai bên khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo là trường hợp cấm kết hôn.
Do đó, xét theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, sĩ quan quân đội và người theo đạo Thiên Chúa vẫn có quyền kết hôn khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.
1.2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Khoản 1 Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.”
Khoản 2 Điều 24 Hiến pháp đồng thời quy định Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tiếp tục ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.
Như vậy, việc một công dân là tín đồ Công giáo tự thân không phải là căn cứ pháp luật để hạn chế quyền kết hôn của người đó.
1.3. Những yêu cầu đặc thù đối với sĩ quan quân đội
Theo Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999, được sửa đổi, bổ sung, sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà nước phong quân hàm cấp Úy, cấp Tá, cấp Tướng.
Điều 12 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định tiêu chuẩn của sĩ quan, trong đó có yêu cầu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Điều 26 Luật này quy định nghĩa vụ của sĩ quan, bao gồm sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thường xuyên giữ gìn và trau dồi đạo đức cách mạng; chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ và kỷ luật quân đội; giữ bí mật quốc gia và bí mật quân sự.
Do đó, ngoài các điều kiện kết hôn áp dụng chung cho mọi công dân, sĩ quan còn phải bảo đảm những yêu cầu đặc thù liên quan đến quản lý cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ theo quy định áp dụng trong quân đội.
2. Sĩ quan quân đội có được phép theo đạo hay không?
Điều 24 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm quyền theo hoặc không theo một tôn giáo.
Pháp luật về nghĩa vụ quân sự cũng không quy định người có tôn giáo đương nhiên không được phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên, cần phân biệt người thực hiện nghĩa vụ quân sự với sĩ quan quân đội.
Sĩ quan phải đáp ứng hệ thống tiêu chuẩn riêng theo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và các quy định về công tác cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật quân sự.
Do đó, không có căn cứ để khẳng định một cách chung rằng tất cả quân nhân đều bị pháp luật cấm theo tôn giáo. Đối với sĩ quan và từng vị trí công tác cụ thể, ngoài quyền tự do tín ngưỡng theo Hiến pháp còn phải xem xét những tiêu chuẩn, nghĩa vụ và quy định chuyên ngành áp dụng đối với chức danh đó.
3. Giải đáp thắc mắc: Bộ đội có được lấy vợ theo đạo Thiên Chúa không?
Có thể khẳng định rằng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không quy định người theo đạo Thiên Chúa thuộc đối tượng mà sĩ quan, quân nhân không được kết hôn.
Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chỉ yêu cầu hai bên đáp ứng điều kiện về độ tuổi, sự tự nguyện, năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp cấm kết hôn.
Điều 24 Hiến pháp năm 2013 đồng thời bảo đảm quyền theo hoặc không theo một tôn giáo và xác định các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
Vì vậy, riêng việc người dự định kết hôn theo đạo Thiên Chúa không làm phát sinh một lệnh cấm kết hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, nếu người kết hôn là sĩ quan quân đội thì còn phải thực hiện những yêu cầu về báo cáo, quản lý cán bộ, tiêu chuẩn chính trị và bảo vệ nội bộ theo quy định áp dụng tại cơ quan, đơn vị.
Người vợ cũng không phải từ bỏ Công giáo chỉ để đáp ứng điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tương tự, việc kết hôn với một người Công giáo không đồng nghĩa sĩ quan bắt buộc phải gia nhập Công giáo.
Nếu hai bên thực hiện thêm nghi thức hôn phối tại nhà thờ thì cần phân biệt nghi thức tôn giáo với việc đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam. Quan hệ hôn nhân được Nhà nước công nhận phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
4. Những trường hợp cần lưu ý khi sĩ quan quân đội kết hôn với người theo đạo
4.1. Không đáp ứng điều kiện kết hôn
Nếu một trong hai bên chưa đủ tuổi, việc kết hôn không tự nguyện hoặc thuộc trường hợp cấm tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì không được kết hôn.
Quy định này áp dụng không phụ thuộc vào việc người dự định kết hôn có theo tôn giáo hay không.
4.2. Trường hợp liên quan đến tiêu chuẩn chính trị
Điều 12 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đặt ra những tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức và các điều kiện cần thiết đối với sĩ quan.
Do đó, nếu quan hệ nhân thân của người dự định kết hôn có vấn đề thuộc phạm vi phải xem xét về tiêu chuẩn chính trị hoặc bảo vệ nội bộ thì sĩ quan cần thực hiện việc kê khai, báo cáo và xác minh theo quy định có liên quan.
Không nên đồng nhất việc “theo Công giáo” với việc “không đáp ứng tiêu chuẩn chính trị”. Hai vấn đề này không có nội hàm pháp lý giống nhau.
4.3. Trường hợp có yếu tố nước ngoài
Nếu người dự định kết hôn là người nước ngoài hoặc quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì ngoài các yêu cầu về quản lý cán bộ, việc đăng ký kết hôn còn phải tuân thủ các quy định tương ứng của Luật Hôn nhân và Gia đình và pháp luật hộ tịch.
Đối với sĩ quan làm việc tại những vị trí liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước, bí mật quân sự, việc xem xét còn phải đặt trong các yêu cầu bảo vệ bí mật và tiêu chuẩn nhân sự áp dụng cho vị trí đó.
4.4. Trường hợp sĩ quan làm việc tại vị trí trọng yếu, cơ mật
Điều 26 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định sĩ quan có nghĩa vụ giữ bí mật quốc gia và bí mật quân sự.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 đồng thời đặt ra các nguyên tắc và trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước.
Vì vậy, đối với sĩ quan đang công tác tại những vị trí đặc biệt nhạy cảm về quốc phòng, an ninh, việc xem xét nhân sự và quan hệ gia đình có thể chịu những yêu cầu chặt chẽ hơn theo quy định áp dụng đối với vị trí công tác.
5. Thủ tục thẩm tra lý lịch và xác minh đối tượng kết hôn trong quân đội
Cần phân biệt thủ tục đăng ký kết hôn theo pháp luật với thủ tục quản lý cán bộ trong quân đội.
5.1. Báo cáo việc dự định kết hôn
Sĩ quan có dự định kết hôn cần thực hiện việc báo cáo và kê khai theo quy định quản lý cán bộ của cơ quan, đơn vị.
Cơ quan cán bộ, chính trị hoặc bộ phận có thẩm quyền của đơn vị sẽ hướng dẫn phạm vi hồ sơ, biểu mẫu và thông tin phải kê khai theo quy định áp dụng đối với người sĩ quan đó.
5.2. Kê khai lý lịch
Người dự định kết hôn cung cấp thông tin theo biểu mẫu do đơn vị yêu cầu.
Việc kê khai phải trung thực, bao gồm các thông tin về nhân thân, nơi cư trú, quá trình học tập, công tác, quan hệ gia đình và những nội dung khác nếu thuộc phạm vi phải khai báo.
Nếu người dự định kết hôn là tín đồ Công giáo thì thông tin về tôn giáo cần được kê khai đúng theo yêu cầu của biểu mẫu.
5.3. Thẩm tra, xác minh
Cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thẩm tra, xác minh những thông tin cần thiết theo quy định về công tác cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ.
Phạm vi xác minh phải căn cứ vào quy định áp dụng đối với từng đối tượng và vị trí công tác. Các văn bản pháp luật công khai về hôn nhân và gia đình không đặt ra một thủ tục chung mang tên “thẩm tra lý lịch ba đời” như một điều kiện đăng ký kết hôn áp dụng cho mọi sĩ quan.
Vì vậy, phạm vi người thân phải kê khai và xác minh cần căn cứ trực tiếp vào biểu mẫu, quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền trong quân đội.
5.4. Xem xét kết quả theo quy định của đơn vị
Sau khi hoàn thành việc xác minh, cơ quan có thẩm quyền xem xét kết quả theo tiêu chuẩn quản lý cán bộ và bảo vệ nội bộ áp dụng đối với sĩ quan.
Nếu có vấn đề cần làm rõ, sĩ quan có trách nhiệm cung cấp hoặc giải trình thông tin theo yêu cầu.
5.5. Đăng ký kết hôn
Sau khi hoàn thành những thủ tục nội bộ phải thực hiện, hai bên tiến hành đăng ký kết hôn theo pháp luật hộ tịch.
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Điều 18 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định thủ tục đăng ký kết hôn thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp thuộc thẩm quyền cấp xã.
Như vậy, việc sĩ quan kết hôn với người theo đạo Thiên Chúa không thuộc trường hợp bị pháp luật hôn nhân và gia đình cấm. Khi hai bên đáp ứng Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì về nguyên tắc có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật chung. Đối với sĩ quan, do tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang, còn phải tuân thủ các quy định về quản lý cán bộ, tiêu chuẩn chính trị, bảo vệ nội bộ và bảo vệ bí mật áp dụng đối với chức danh, vị trí công tác cụ thể.
Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: