NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Khái niệm về quản chế và thi hành hình phạt quản chế

1.1 Quản chế:

Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo quy định và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

1.2 Thi hành án phạt quản chế:

Thi hành án phạt quản chế là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và Nhân dân địa phương theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

1.3 Đối tượng bị áp dụng hình phạt quản chế:

Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật hình sự quy định.

2. Thi hành hình phạt quản chế.

Đây cũng là một trong những hình phạt truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển (hoàn thiện) theo chiều dài của lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta. Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về quản chế là sắc lệnh số 175-SL ngày 18/8/1953. Tại văn bản này, quản chế được quy định vừa là một biện pháp cưổng chê hành chính thuộc thẩm quyền quyết định của uỷ ban hành chính (cấp tỉnh), vừa là một hình phạt hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Đối tượng bị quản chế được quy định là:

  • Địa chủ, cường hào có tội nhẹ;
  • Bọn làm gián điệp, bọn đã tham gia đảng phái phản động, nói chung bọn đã làm tay sai cho địch nhưng tội nhẹ mà nay chưa thực sự hôi cải;
  • Bọn lưu manh trước kia đã chuyên sống bằng trộm cắp;
  • Kẻ đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hốì cải (Điều 4 Sắc lệnh số 175-SL ngày 18/8/1953).

Thời hạn quản chế được quy định từ 1 đến 3 năm và có thể tăng thêm từ 6 tháng đến 3 năm, nếu kẻ bị quản chê không sửa chữa. Còn nếu người bị quản chê tích cực sửa chữa thì thời hạn quản chế có thể được giảm (Điều 7 Sắc lệnh số 175-SL).

Như vậy, tại văn bản pháp luật này, quản chế được áp dụng chủ yếu với tính cách là một biện pháp cưỡng chê hành chính, còn với tính cách là hình phạt thì lại được xem là hình phạt chính, mặc dù thời hạn chỉ từ 1 năm đến 3 năm.

Quản chế với tính cách là một hình phạt bổ sung (hình phạt phụ) được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh ngày 30/10/1967 trừng trị các tội phản cách mạng với thời hạn từ 1 đến 5 năm. Tiếp đó, vào những năm 70, quản chế tiếp tục được quy định là một hình phạt bổ sung tại những văn bản pháp luật hình sự đơn hành sau đây:

  • Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa;
  • Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân;
  • Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời quy định tội phạm và hình phạt.

Đúc rút kinh nghiệm từ thực tế vận dụng các văn bản pháp luật hình sự đã được ban hành, hình phạt quản chế với tính cách là hình phạt bổ sung đã được chính thức quy định tại BLHS đầu tiên của Nhà nước ta vào năm 1985. Bộ luật này có tất cả 45 điều luật quy định về tội phạm mà phần chế tài có quy định về hình phạt bổ sung là quản chế. Trong đó có 29 điều (22 điều thuộc chương “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”, 6 điều thuộc Chương “Các tội xâm phạm sở hữu XHCN”, và 1 điều thuộc Chương “Các tội phạm về ma túy”') mà trong phần chế tài, nhà làm luật quy định bắt buộc áp dụng hình phạt bổ sung hoặc là quản chế, hoặc là cấm cư trú, 14 điều (3 điều thuộc Chương I - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, 7 điều thuộc Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu của công dân, 4 điều thuộc Chương VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính) với quy định về quyền tùy nghi đối với một trong hai hình phạt bổ sung vừa nêu và chỉ có 2 điều thuộc Chương V - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tội xâm phạm đối với người chưa thành niên - có quy định về quyền tùy nghi riêng cho một loại hình phạt bổ sung là quản chế. Hình phạt quản chế với tính cách là hình phạt bổ sung tiếp tục được quy định trong BLHS năm 1999, song với một bộ mặt hoàn toàn khác so với BLHS năm 1985 cả về mức độ và phương thức điều chỉnh.

Nếu như trong BLHS năm 1985 có 45 điều luật quy định về tội phạm mà phần chê tài có quy định về hình phạt bổ sung là quản chế, thì trong BLHS năm 1999 chỉ còn 29 điều luật, trong đó có 14 điều thuộc Phần các tội phạm Chương XI-Các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Phương thức quy định bắt buộc áp dụng loại hình . phạt bổ sung này, luật ấn định đối với 29 trường hợp ở BLHS năm 1985, còn ở BLHS năm 1999 chỉ có 1 trường hợp duy nhất, quy định tại Điều 221 - tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy. Hình phạt quản chế đứng độc lập, tức là không song hành với hình phạt cấm cư trú được BLHS năm 1999 tăng lên gấp đôi so với BLHS năm 1985. Cụ thể, BLHS năm 1999 vẫn giữ hình phạt quản chế đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) và tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252), ngoài ra còn quy định thêm'đối với hai tội khác. Đó là tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231) và tội chứa mại dâm (Điều 254). Đối với cả 4 tội vừa nêu, luật cũng không quy định bắt buộc phải áp dụng hình phạt quản chế, mà chỉ quy định “còn có thể áp dụng”.

Như vậy, cũng giống như hình phạt cấm cư trú, hình phạt quản chế không có trường hợp nào luật buộc phải áp dụng, kể cả trường hợp quy định tại Điều 221. Luật đã dành quyền tùy nghi cho Hội đồng xét xử trong mọi trường hợp quy định về hình phạt quản chế. Riêng đối với tội phạm quy định tại Điều 221 thì quyền tùy nghi bị hạn chê trong khuôn khổ chọn một trong hai: hoặc là quản chế, hoặc là cấm cư trú.

Tóm lại, trong BLHS năm 1999, việc quy định về hình phạt quản chế tuy có khác nhiều so với quy định trong BLHS nám 1985 cả về mức độ và phương thức điều chỉnh, song vẫn lưu giữ cách đặt chế tài song hành giữa quản chế và cấm lưu trú, tức là trao cho Hội đồng xét xử quyền quyết định áp dụng một trong hai hình phạt bổ sung mà nội dung, tác dụng và điều kiện áp dụng chúng rất khác nhau. Cấm cư trú và quản chế không phải là thứ bậc của nhau, xét về mặt phòng ngừa tội phạm. Sau đây là sự so sánh:

  • Về nội dung

Cấm cư trú là không được tạm trú ở một số địa phương nhất định, ở đây chỉ có một quyền bị cấm là quyền tự do cư trú.

Quản chê là phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương, không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 BLHS năm 1999. Ngoài ra còn bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. O đây có nhiều quyền bị cấm: đó là quyền tự do đi lại; quyền ứng cử; quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước; quyền phục vụ trong các lực lượng vũ trang nhân dân; quyền tự do nghề nghiệp.

  • Về tác dụng phòng ngừa tội phạm

Tác dụng phòng ngừa tội phạm của hình phạt cấm cư trú xuất phát từ tầm quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng ở một số khu vực nhất định, những nơi có các điều kiện thuận lợi mà người phạm tội có thể lợi dụng để phạm tội mới. Cho nên hình phạt cấm cư trú chỉ phát huy tác dụng phòng ngừa đối với những người phạm tội nào mà phương thức, thủ đoạn phạm tội của họ có yếu tô lợi dụng các điều kiện thuận lợi về cư trú.

Tác dụng phòng ngừa của hình phạt quản chế lại xuất phát từ sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương, chứ không phải từ tầm quan trọng và điều kiện thuận lợi của nơi cư trú. Cho nên quản chế chỉ có tác dụng ở nơi nào mà người bị quản chê đã từng ở đó, chứ không thể ồ nơi hoàn toàn mới lạ. Ngoài ra, tác dụng phòng ngừa của quản chê còn thể hiện ở việc không tạo cho người bị quản chế các điều kiện thuận lợi về việc làm và nghề nghiệp để phạm tội mới.

  • Về điều kiện áp dụng

Đối tượng bị áp dụng quản chế, theo quy định tại Điều 38, phải là người bị kết án phạt tù, phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Những trường hợp khác ở đây là những trường hợp quy định tại các điều 93, 119, 133, 134, 197, 221, 230, 232, 233, 236, 238, 120, 231, 252 và Điều 254 (15 trường hợp tất cả).

Như vậy, theo quy định tại Điều 26, Điều 38 và điểm 4 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999, hình phạt quản chế chỉ có thể được tuyên áp dụng đối với 29 trường hợp, bao gồm 14 trường hợp phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và 15 trường hợp vừa nêu.

Thời điểm tính thời hạn quản chế được bắt đầu từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Khi chấp hành được 1/2 thời hạn đã tuyên và người bị phạt quản chế cải tạo tốt, thì Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại trên cơ sở đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt quản chế.

Với các điều kiện như vậy, hình phạt quản chế chỉ có thể là loại hình phạt bổ sung cho hình phạt chính là tù có thời hạn. Luật không quy định cụ thể là “tù có thời hạn”, song tổng hợp các quy định tại các điều 26, 38, 60 BLHS năm 1999 và Điều 235 BLTTHS, thì các hình phạt chính như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù chung thân, tử hình và cả trường hợp án treo, đều không thể lấy quản chế làm hình phạt bổ sung.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê