1. Thỏa thuận hòa giải là gì?
Trong quan hệ kinh doanh – thương mại, thỏa thuận hòa giải là một thỏa thuận giữa các bên, thống nhất về việc giải quyết tranh chấp có khả năng phát sinh hoặc đã phát sinh thông qua hòa giải. Tương tự như trọng tài, hòa giải là một thủ tục có tính chất tự nguyện và vì vậy, chỉ có thể được tiến hành khi có sự đồng thuận của tất cả các bên. Thỏa thuận hòa giải có thể được các bên xác lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
2. Xác lập thỏa thuận hòa giải trước khi xảy ra tranh chấp
Trong trường hợp đầu tiên, các bên có thể xác lập thỏa thuận hòa giải dưới dạng một điều khoản trong hợp đồng, quy định mọi tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng sẽ được giải quyết bằng hòa giải. Khi xác lập một điều khoản GQTC trong hợp đồng, điều khoản này được coi là một thỏa thuận có tính chất ràng buộc đối với các bên và vì vậy, sẽ ít gặp khó khăn khi yêu cầu các bên tham gia thủ tục hòa giải.
Nhằm đảm bảo tính ràng buộc của điều khoản GQTC và hạn chế các vấn đề phát sinh, các doanh nghiệp nên tham khảo điều khoản mẫu được soạn thảo bởi các cơ quan, tổ chức có chuyên môn về hòa giải. Ví dụ, nếu lựa chọn Trung tâm hòa giải VICMC để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh, các bên nên đưa điều khoản hòa giải mẫu sau vào hợp đồng:
“Trong trường hợp có bất kỳ tranh chấp nào phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng, các bên thống nhất sẽ tiến hành hòa giải một cách thiện chí tại Trung tâm hoà giải thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC) theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm này. Các bên sẽ bị ràng buộc bởi thỏa thuận giải quyết tranh chấp đạt được từ tiến trình hòa giải.”[1]
3. Xác lập thỏa thuận hòa giải sau khi xảy ra tranh chấp
Việc tham gia hòa giải sẽ khó khăn hơn khi các bên chưa có thỏa thuận hòa giải trước khi xảy ra tranh chấp. Khi mâu thuẫn đã phát sinh, việc thuyết phục các bên cùng tham gia hòa giải gặp phải rất nhiều trở ngại, như trở ngại về tâm lý, trở ngại về xung đột lợi ích. Các luật sư tư vấn cho các bên trong tranh chấp, thông qua các quy định pháp luật về hòa giải hay tố tụng, có thể biết về các trường hợp được phép GQTC thông qua hòa giải; nhưng chưa hiểu rõ về ý nghĩa của việc sử dụng hòa giải, đặc biệt là từ góc độ kinh doanh.
Thực chất, hòa giải được coi là một công cụ quản trị kinh doanh và được các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng trước khi tìm đến những cơ chế GQTC khác như trọng tài hay tòa án bởi những ưu điểm riêng biệt sau[2]:
• Hòa giải ưu tiên xem xét thực tiễn kinh doanh, thay vì chủ yếu tập trung vào vấn đề pháp lý như trọng tài hay tòa án.
• Hòa giải giúp các bên tiết kiệm thời gian. Thông thường, một phiên hòa giải sẽ chỉ kéo dài trong khoảng một đến vài ngày. Trong khi đó, đối với trọng tài hoặc tòa án, các bên phải thực hiện nhiều thủ tục và quá trình giải quyết có thể lên tới nhiều tháng hoặc cả năm.
• Hòa giải giúp các bên kiểm soát được rủi ro về danh tiếng. Quy trình hòa giải diễn ra trong thời gian ngắn hơn và hoàn toàn bảo mật giúp các bên kiểm soát được nguy cơ thông tin liên quan đến tranh chấp bị lan truyền ra bên ngoài.
• Trong quá trình hòa giải, Hòa giải viên có thể giúp các bên xác định vị trí của họ trong tranh chấp dưới góc độ pháp lý. Điều này thúc đẩy các bên tìm kiếm giải pháp thông qua hòa giải, từ đó tránh được các rủi ro về tố tụng sau này.
• Hòa giải giúp các bên tiết kiệm chi phí tố tụng (nếu các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành)
• Hòa giải cho phép các bên kiểm soát được kết quả của việc giải quyết tranh chấp (thay vì chuyển quyền quyết định sang cho trọng tài viên hay thẩm phán)
• Quá trình hòa giải chú trọng đến những nhu cầu, ưu tiên của mỗi bên, từ đó xây dựng những giải pháp sáng tạo, vừa đảm bảo, vừa cân bằng lợi ích của các bên. Chính vì vậy, thỏa thuận đạt được thông qua hòa giải thường có mức độ tự nguyện thi hành cao hơn so với phán quyết trọng tài hay bản án, quyết định của tòa án.
Theo Hòa giải viên Andy Rogers của CEDR, để thuyết phục bên còn lại tham gia hòa giải, bên mong muốn hòa giải cần bỏ qua những định kiến đã hình thành trước đó về vụ tranh chấp và xem xét, đánh giá khách quan về (i) những khó khăn, trở ngại mà bên còn lại đang gặp phải; (ii) những nhu cầu, mong muốn thực sự của họ và (iii) cách mà hòa giải có thể khắc phục những khó khăn, trở ngại cũng như đáp ứng những nhu cầu, mong muốn của bên còn lại[3].
Nếu mâu thuẫn giữa các bên cản trở việc đối thoại trực tiếp, bên mong muốn hòa giải có thể thông qua luật sư của mình để thuyết phục bên còn lại. Bên cạnh đó, hầu hết các Hòa giải viên cũng sẽ sẵn sàng hỗ trợ trong quá trình thuyết phục, ngay cả khi các bên chưa có thỏa thuận hòa giải. Các Hòa giải viên được đào tạo có thể giải thích quy trình hòa giải và giải đáp các thắc mắc, nghi ngờ về hòa giải mà không tạo ra áp lực đối với người nghe. Đồng thời, vai trò trung gian của Hòa giải viên cũng khiến cho bên còn lại dễ dàng lắng nghe hơn.
4. Những điểm cần lưu ý khi soạn thảo thỏa thuận hòa giải
Dù được xác lập trước hay sau khi xảy ra tranh chấp, các thỏa thuận hòa giải đều phải tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan. Là một thỏa thuận dân sự, thỏa thuận hòa giải cần đáp ứng những yêu cầu sau để đảm bảo hiệu lực pháp luật[4]:
• Người ký kết thỏa thuận phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và phải có thẩm quyền ký kết trong trường hợp đại diện cho tổ chức, nếu người ký không phải là người đại diện theo pháp luật của tổ chức thì người đó phải được ủy quyền hợp lệ;
• Các bên tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận hòa giải;
• Thỏa thuận hòa giải không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội;
• Thỏa thuận hòa giải không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba;
• Thỏa thuận hòa giải phải được xác lập bằng văn bản.
Bên cạnh việc đáp ứng các quy định pháp lý, để việc thực hiện thỏa thuận diễn ra thuận lợi, các bên nên kiểm tra kỹ ngôn ngữ được sử dụng trong thỏa thuận hòa giải nhằm đảm bảo tính ràng buộc của thỏa thuận này. Đồng thời, để tránh tốn kém thời gian, thỏa thuận hòa giải nên xác định rõ cách thức chỉ định hòa giải viên, cách thức tiến hành hòa giải, … Khi đó, các bên có thể quy định sử dụng Quy tắc hòa giải của các Trung tâm hòa giải như VICMC nhằm tiết kiệm thời gian đàm phán và hạn chế nguy cơ điều khoản có lỗi. Các Quy tắc hòa giải thường đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, bao hàm tất cả các vấn đề có liên quan đến thủ tục hòa giải, đảm bảo tính tuân thủ với quy định pháp luật và tính linh hoạt để đáp ứng các yêu cầu trong từng vụ việc cụ thể.
5. Mẫu thỏa thuận về hòa giải
MẪU 1:
“Điều …: Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải
Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng hoà giải tại Trung tâm trọng tài thương mại HTA theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm này.”
MẪU 2:
“Điều …: Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải
1. Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng hoà giải tại Trung tâm trọng tài thương mại HTA theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm này.
2. Hai bên sẽ thống nhất chọn một Hòa giải viên thuộc Danh sách Hòa giải viên của Trung tâm này.”
MẪU 3:
“Điều …: Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải
1. Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng hoà giải tại Trung tâm trọng tài thương mại HTA theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm này.
2. Hai bên sẽ thống nhất chọn một Hòa giải viên thuộc Danh sách Hòa giải viên của Trung tâm này.
3. Thỏa thuận hòa giải này không loại trừ quyền của mỗi bên khởi kiện vụ án ra Tòa án.”
6. Quy tắc hòa giải của trung tâm trọng tài quốc tế Hà Nội năm 2019
Điều 1: Phạm vi áp dụng Quy tắc hoà giải
1. Quy tắc hòa giải của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hà Nội áp dụng cho việc hoà giải tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới quan hệ pháp lý trong hoạt động thương mại bao gồm cả trực tuyến (online) và ngoại tuyến (offline), khi các bên quyết định tiến hành hoà giải tranh chấp của mình thông qua Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hà Nội (sau đây gọi tắt là HIAC).
2. Các bên tranh chấp có thể lựa chọn tiến hành hoà giải dưới hai (2) hình thức.
Hoà giải trực tuyến (online): áp dụng đối với các tranh chấp phát sinh từ giao dịch thương mại điện tử và các tranh chấp khác có giả trị nhỏ hơn hoặc bằng 30 triệu đồng (ba mươi triệu đồng); và
Hoà giải ngoại tuyến (offline): áp dụng với mọi loại tranh chấp.
3. Các bên tranh chấp có thể thoả thuận không áp dụng hoặc thay đổi một hoặc một số quy định của Quy tắc này tại bất cứ thời điểm nào nếu việc không áp dụng hoặc thay đổi đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam tại thời điểm tiến hành hoà giải.
4. Trong trường hợp bất kỳ qui định nào của Quy tắc này trái với quy định bắt buộc của luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp thì qui định bắt buộc của luật được áp dụng cho việc hòa giải.
Điều 2: Khởi đầu quá trình hoà giải
1. Bên có yêu cầu hòa giải phải gửi đơn đến HIAC trình bày nội dung tranh chấp và yêu cầu của mình; nộp tạm ứng phí hoà giải theo quy định tại Điều 18 và Biểu phí hoà giải đính kèm. Đối với các yêu cầu hoà giải trực tuyến các bên có thể nộp đơn trực tuyến (online) trên trang chủ của HIAC tại địa chỉ: www.hiac.vn.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hoà giải và tạm ứng phí hoà giải, HIAC thông báo cho bên kia biết về nội dung của việc hoà giải và yêu cầu nộp tạm ứng phí hoà giải theo quy định tại Điều 18 và Biểu phí hoà giải. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, bên nhận được yêu cầu hoà giải phải thông báo cho HIAC biết về việc chấp nhận hay từ chối hòa giải.
3. Trong trường hợp HIAC nhận được trả lời không đồng ý hoà giải hoặc nếu hết thời hạn 15 ngày nêu trên mà HIAC không nhận được trả lời thì đơn yêu cầu hòa giải coi như bị bác và HIAC thông báo cho bên gửi đơn yêu cầu hoà giải biết.
4. Quá trình hoà giải bắt đầu khi HIAC nhận được thông báo chấp nhận hoà giải và tạm ứng phí hoà giải của bên nhận được yêu cầu hoà giải. Đối với hoà giải trực tuyến, việc gửi thông báo chấp nhận hoà giải được thực hiện trực tuyến theo quy trình được công bố trên trang chủ của HIAC. Đối với hoà giải ngoại tuyến, mọi chấp nhận hoà giải phải được làm thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
5. Trong trường hợp các bên cùng có đơn yêu cầu hoà giải gửi tới HIAC thì quá trình hoà giải bắt đầu từ thời điểm HIAC nhận được đơn yêu cầu và tạm ứng phí hoà giải.
Điều 3: Số lượng hoà giải viên
Mỗi vụ việc sẽ do một hoà giải viên tiến hành việc hoà giải trừ khi các bên có thoả thuận là có hai hoặc ba hoà giải viên.
Điều 4: Chỉ định hoà giải viên
1. Ngoại trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này, việc chỉ định hòa giải viên được thực hiện như sau:
(a) Trong trường hợp yêu cầu một hoà giải viên duy nhất, các bên cần thoả thuận về tên của hoà giải viên duy nhất đó;
(b) Trong trường hợp yêu cầu hai hoà giải viên, mỗi bên chỉ định một hoà giải viên;
(c) Trong trường hợp yêu cầu ba hoà giải viên, mỗi bên chỉ định một hoà giải viên. Các bên cần thoả thuận về tên của hoà giải viên thứ ba.
(Sau đây một hoặc hơn một hoà giải viên được gọi chung là hoà giải viên).
2. Các bên tranh chấp có thể yêu cầu Chủ tịch HIAC chỉ định hoà giải viên cho mình. Chủ tịch HIAC chỉ định hoà giải viên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chỉ định hoà giải viên của các bên:
Hòa giải viên được chỉ định trong danh sách các hòa giải viên do HIAC cung cấp hoặc người ngoài danh sách đó, với điều kiện những người được chỉ định chấp nhận Quy tắc này;
Các bên có thể yêu cầu Chủ tịch HIAC giới thiệu hoà giải viên trước khi quyết định chỉ định hoà giải viên:
Thời hạn chỉ định hoà giải viên hoặc yêu cầu Chủ tịch HIAC giới thiệu hoặc chỉ định hoà giải viên là 15 ngày, kể từ ngày bắt đầu của qúa trình hoà giải nêu tại khoản 4 và 5 Điều 2 Quy tắc này.
Điều 5: Nộp bản giải trình lên hoà giải viên
1. Sau khi được chỉ định, hoà giải viên yêu cầu mỗi bên nộp bản trình bày ý kiến của mình về các vấn đề đang tranh chấp. Mỗi bên đồng thời phải gửi bản trình bày đó cho bên kia.
2. Tại bất cứ thời điểm nào của quá trình hoà giải, hoà giải viên có thể yêu cầu một hoặc các bên nộp cho mình bản trình bày và các thông tin bổ sung về những vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp, hoặc bất cứ tài liệu nào xét thấy cần thiết cho việc hoà giải.
3. Hình thức gửi các bản trình bày và các thông tin bổ sung do hoà giải viên và các bên tự thoả thuận.
Điều 6: Đại diện và trợ giúp
Các bên có thể cử người đại diện hoặc trợ giúp cho mình trong quá trình hoà giải. Tên và địa chỉ của những người này phải được thông báo bằng văn bản cho bên kia và cho hoà giải viên, trong đó nêu rõ những người đó là người đại diện hay là người trợ giúp trong quá trình hòa giải.
Điều 7: Vai trò của hoà giải viên
1. Bằng nỗ lực của mình, hoà giải phải hành động một cách độc lập, vô tư và khách quan để giúp các bên đạt được giải pháp hoà giải cho tranh chấp;
2. Hoà giải viên phải căn cứ vào thoả thuận của các bên, tập quán thương mại, thực tiễn kinh doanh giữa các bên, các bối cảnh liên quan tới tranh chấp để làm cơ sở cho việc hoà giải;
3. Hoà giải viên có thể tiến hành quá trình hoà giải theo cách thức mà mình cho là phù hợp với bản chất, nội dung của vụ tranh chấp cũng như mong muốn của các bên.
4. Hoà giải viên có thể, tại bất kỳ thời điểm nào của quá trình hoà giải, đưa ra đề xuất về giải quyết tranh chấp. Đề xuất đó không nhất thiết phải lập bằng văn bản và không cần phải kèm theo lý do.
Điều 8: Hỗ trợ hành chính
Theo yêu cầu của các bên và hòa giải viên, HIAC tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành quá trình hoà giải trong việc bố trí thời gian, địa điểm hoà giải; hỗ trợ về mặt hành chính, cử người trợ giúp cho hoà giải viên và các bên trong suốt quá trình hòa giải.
Điều 9: Giao dịch, trao đổi giữa hoà giải viên và các bên
1. Hoà giải viên có thể trực tiếp gặp từng bên hoặc các bên và cũng có thể giao dịch, trao đổi với họ dưới bất kỳ hình thức nào.
2. Trừ khi các bên có thoả thuận về nơi gặp gỡ với hoà giải viên, việc tổ chức nơi gặp gỡ sẽ do hoà giải viên quyết định, có tính tới hoàn cảnh của quá trình hoà giải.
3. Trừ khi các bên có có thỏa thuận khác, mọi giao dịch, trao đổi sẽ được tiến hành bằng tiếng Việt. Trong trường hợp các bên yêu cầu tiến hành giao dịch, trao đổi bằng một ngôn ngữ khác mà hoà giải viên của HIAC không sử dụng ngôn ngữ đó thì các bên phải chịu trách nhiệm cho việc phiên dịch và tính chính xác của việc phiên dịch đó.
4. Hoà giải viên, một hoặc các bên có thể yêu cầu HIAC thu xếp phiên dịch cho mình, chi phí phiên dịch do bên có yêu cầu phiên dịch trả. Trong trường hợp phiên dịch do cả hai bên yêu cầu thì chi phí phiên dịch được phân bổ đều cho các bên tranh chấp.
Điều 10: Công khai thông tin
1. Hoà giải viên phải thông tin về văn bản trao đổi giữa hoà giải viên với mỗi bên và thông tin khác mà hoà giải viên nhận được từ một bên (nếu những nội dung trên lập bằng văn bản) cho bên kia biết để bên kia có cơ hội trình bày ý kiến của mình, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Trong trường hợp một bên đưa ra một thông tin nào đó cho hoà giải viên biết với yêu cầu là thông tin đó phải được giữ bí mật, thì hoà giải viên không được công bố thông tin đó cho bên kia biết.
3. Các văn bản và thông tin nêu tại khoản 1 Điều này đều phải được hoà giải viên sao gửi (nếu là văn bản) hoặc thông báo cho HIAC.
Điều 11: Hợp tác của các bên với hoà giải viên
Các bên có trách nhiệm hợp tác với hoà giải viên, kể cả đáp ứng các yêu cầu của hoà giải viên về việc nộp các bản trình bày, các tài liệu có liên quan và tham dự các cuộc họp ngoại tuyến hoặc trực tuyến.
Điều 12: Đề xuất của các bên về giải quyết tranh chấp
Mỗi bên có thể chủ động hoặc theo đề nghị của hoà giải viên gửi cho hoà giải viên đề xuất về phương án giải quyết tranh chấp.
Điều 13: Thỏa thuận hòa giải
1. Khi xuất hiện những khả năng cho việc giải quyết tranh chấp có thể được cả hai bên chấp nhận, thì hoà giải viên soạn thảo hoặc hỗ trợ các bên soạn thảo thoả thuận hoà giải.
2. Bằng việc ký vào văn bản thoả thuận hoà giải, các bên kết thúc tranh chấp và bị ràng buộc bởi thoả thuận hoà giải đó theo các quy định của pháp luật dân sự.
Điều 14: Bảo mật
Hoà giải viên, HIAC và các bên phải giữ bí mật mọi vấn đề liên quan tới quá trình hoà giải, kể cả thoả thuận hoà giải.
Điều 15: Chấm dứt quá trình hoà giải
1. Quá trình hoà giải chấm dứt:
Tại thời điểm mà các bên ký vào văn bản thoả thuận hoà giải;
Tại thời điểm công bố văn bản của hoà giải viên về việc không thể giải quyết vụ tranh chấp bằng hoà giải sau khi hoà giải viên đã nỗ lực hỗ trợ nhưng các bên không thể đạt được một thoả thuận hoà giải;
Tại thời điểm công bố bằng văn bản của một bên hoặc các bên gửi tới hoà giải viên yêu cầu chấm dứt hoà giải;
Tại thời điểm hết thời hạn chỉ định hoặc yêu cầu chỉ định hoà giải viên nhưng một hoặc các bên không chỉ định hoặc đưa ra yêu cầu;
Tại thời điểm hết hạn nộp bản trình bày và các tài liệu có liên quan theo yêu cầu của hoà giải viên hoặc hết hạn nộp chi phí hoà giải theo yêu cầu của HIAC nhưng một hoặc các bên không thực hiện như được yêu cầu;
Tại thời điểm một hoặc các bên đưa vụ tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải ra kiện tại trọng tài hoặc tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 16.
2. Khi xảy ra các trường hợp chấm dứt quá trình hoà giải nêu tại khoản 1 Điều này, HIAC làm văn bản thông báo chính thức cho các bên và hoà giải viên về việc chấm dứt hoà giải.
Điều 16: Viện tới tố tụng trọng tài hoặc tòa án
1. Trong quá trình hoà giải, các bên cam kết không tiến hành bất cứ tố tụng trọng tài hoặc tòa án nào đối với tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải.
2. Trong quá trình hoà giải, nếu một bên hoặc các bên đưa vụ tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải ra kiện tại trọng tài hoặc tòa án thì việc hoà giải
mặc nhiên bị coi là chấm dứt.
Điều 17: Chi phí hoà giải
1. Chi phí hoà giải trực tuyến bao gồm:
Phí hành chính được qui định tại Điều 8 của Qui tắc này.
Một khoản thù lao hợp lý cho hoà giải viên;
Chi phí đi lại và các chi phí khác của nhân chứng theo yêu cầu của hoà giải viên với sự đồng ý của các bên;
Chi phí về tư vấn của các chuyên gia và chi phí phiên dịch theo yêu cầu của các bên hoặc của hoà giải viên với sự đồng ý của các bên;
2. Chi phí hoà giải ngoại tuyến sẽ bao gồm các chi phí được liệt kê ở khoản 1 điều này cộng thêm chi phí đi lại và các chi phí khác của hoà giải viên phục vụ cho việc hoà giải;
3. Các chi phí nêu trên do hai bên đều chịu bằng nhau trừ khi các bên có thoả thuận khác. Mọi chi phí khác phát sinh từ yêu cầu của một bên do bên đó tự chịu.
Điều 18: Thủ tục nộp chi phí hòa giải
1. Trừ khi các bên có thoả thuận khác, mỗi bên phải nộp tạm ứng một khoản tiền bằng nhau cho các chi phí được nêu tại khoản 1 Điều 17 Quy tắc này. Cách thức nộp như sau:
i. Bên nộp đơn yêu cầu hoà giải phải nộp tạm ứng 50% phí hoà giải.
ii. Khi chấp nhận hoà giải, bên nhận được yêu cầu hoà giải phải nộp tạm ứng 50% phí hoà giải.
iii. Trong trường hợp các bên cùng có đơn yêu cầu hoà giải gửi tới HIAC thì mỗi bên nộp 50% phí hoà giải.
2. Trong quá trình hoà giải, HIAC có thể yêu cầu mỗi bên nộp khoản tiền bổ sung bằng nhau, có nêu rõ lý do phải nộp khoản tiền bổ sung này. Nếu khoản tiền này không được hai bên nộp đầy đủ trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của HIAC thì quá trình hoà giải chấm dứt theo quy định tại khoản 5 Điều 15 Quy tắc này.
3. Sau khi chấm dứt quá trình hoà giải, HIAC sẽ tính toán chi phí trong số tiền đã ứng trước và trả lại cho các bên bất cứ khoản phí còn lại nào không chi tới.
4. Việc nộp chi phí hoà giải được thực hiện chuyển khoản hoặc nộp tiền mặt.
Điều 19: Trách nhiệm của hoà giải viên trong tố tụng tại trọng tài hoặc toà án
Trừ trường hợp các bên chấp thuận bằng văn bản, hoà giải viên sẽ không được làm trọng tài viên, hoặc làm người đại diện, nhân chứng hoặc luật sư của bất cứ bên nào trong vụ kiện tại trọng tài hoặc toà án mà nội dung vụ kiện là đối tượng của quá trình hoà giải mà mình đã tham gia.
Điều 20: Thừa nhận bằng chứng trong tố tụng tại trọng tài hoặc toà án
Các bên cam kết, dưới bất cứ hình thức nào, không sử dụng làm căn cứ hay bằng chứng trong những vụ kiện tại bất kỳ cơ quan trọng tài hay tòa án nào mà nội dung vụ kiện liên quan đến tranh chấp là đối tượng của quá trình hoà giải:
1. Các ghi âm, ghi hình, ảnh chụp, bản ghi chép nội dung các cuộc tiếp xúc trong quá trình hòa giải;
2. Các quan điểm hoặc những đề nghị mà bên kia đưa ra về giải pháp cho tranh chấp;
3. Sự chấp nhận mà bên kia đưa ra trong quá trình hoà giải;
4. Những đề xuất mà hoà giải viên đưa ra;
5. Sự chấp nhận của một bên đối với đề xuất về giải quyết tranh chấp mà hoà giải viên đưa ra.
Ghi chú:
[1] VICMC, Điều khoản hòa giải mẫu, https://vicmc.vn/van-ban-bieu-mau-ap-dung-tai-vicmc/
[2] Tham khảo từ bài viết “How To Mediate with Difficult People” của Hòa giải viên Andy Rogers, Trung tâm Giải quyết tranh chấp hiệu quả CEDR, tham khảo tại: https://www.cedr.com/how-to-mediate-with-difficult-people/
[3] Andy Rogers, How to Mediate with Difficult People, CEDR, tham khảo tại https://www.cedr.com/how-to-mediate-with-difficult-people/
[4] Theo các quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại