1. Nghỉ làm đi khám nghĩa vụ quân sự có được hưởng lương không?

Theo quy định tại khoản 4 Điều 40 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 thì thời hạn khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự được diễn ra từ ngày 01 tháng 11 đến hết ngày 31 tháng 12 hằng năm. Các địa phương sẽ sắp xếp lịch khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự phù hợp với tình hình thực tế. Việc khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm và là nghĩa vụ của mỗi công dân khi đến tuổi nghĩa vụ quân sự. Do đó, khi cá nhân nhận được lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự đều có nghĩa vụ phải chấp hành, tức là trong trường hợp lịch khám rơi vào ngày làm việc trong tuần thì người lao động phải nghỉ làm để thực hiện việc khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự.

Theo khoản 10 Điều 58 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động thì thời giờ đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự, nếu thời giờ đó được hưởng nguyên lương theo quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự thì được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Bên cạnh đó, theo quy định tại các Điều 12, Điều 13 Nghị định 13/2016/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2016 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân  thì khi nghỉ làm để thực hiện khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự theo lệnh gọi của Ban chỉ huy quân sự cấp huyện, chế độ chính sách của người lao động được thực hiện như sau:

Trường hợp người lao động đang làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước thì quyền lợi được giải quyết gồm:

- Tiền lương, phụ cấp đang được hưởng: Nhận nguyên lương, phụ cấp đang được hưởng

- Tiền ăn: Không được hưởng

- Tiền tàu xe đi và về: Được hưởng

- Do Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi người lao động đang làm việc, công tác chi trả.

Trường hợp người lao động không thuộc các cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước thì quyền lợi được hưởng gồm có:

- Tiền lương, phụ cấp đang được hưởng: Không được hưởng

- Tiền ăn: Được xác định bằng mức tiền một ngày ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh

- Tiền tàu xe đi và về: Được hưởng

- Do Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện chi trả.

Như vậy, chỉ những người lao động đang làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước mà nghỉ làm để đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng nguyên lương của ngày làm việc đó từ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi người lao động đang làm việc, công tác. Còn những người lao động khác thì sẽ không được tính hưởng lương ngày nghỉ mà chỉ được hỗ trợ tiền ăn và tiền tàu xe đi lại từ Ban Chỉ huy quân sự huyện.

 

2. Có phải trả lương cho người lao động khi người lao động tham gia nghĩa vụ quân sự hay không?

Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân. Theo quy định pháp luật thì khi công dân đủ 18 tuổi đến 25 tuổi (đối với sinh viên đang theo học chính quy tại các trường Đại học hay Cao đẳng thì có thể tạm hoãn đến năm 27 tuổi) và thỏa mãn các tiêu chuẩn thì sẽ phải thực hiện đi nghĩa vụ quân sự.

Căn cứ theo Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019 thì một trong những trường hợp được tạm hoãn hợp đồng lao động có bao gồm người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bên cạnh đó, trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác (theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019).

Ngoài ra, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, theo trường hợp người lao động phải tham gia nghĩa vụ quân sự thì hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ được đương nhiên tạm hoãn thực hiện mà không phụ thuộc vào ý chí của người sử dụng lao động. Và trong thời hạn tham gia nghĩa vụ quân sự thì người lao động sẽ không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động vì không phát sinh hoạt động của người này tại nơi làm việc của người sử dụng lao động. Hết thời hạn tạm hoãn thì của người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc. Việc giải quyết hậu quả của việc tạm hoãn được quy định tại Điều 31 Bộ luật Lao động năm 2019.

Đồng thời, theo điểm đ khoản 3 Điều 50 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 có quy định như sau: Trước khi nhập ngũ đang làm việc tại tổ chức kinh tế thi khi xuất ngũ tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm tiền lương, tiền công tương xứng với vị trí việc làm và tiền lương, tiền công trước khi nhập ngũ; trường hợp tổ chức kinh tế đã chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc phá sản thì việc giải quyết chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ được thực hiện như đối với người lao động của tổ chức kinh tế đó theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trường hợp người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng tiền lương. Bởi căn cứ vào tại khoản 2 Điều 101 Bộ luật Lao động năm 2019 thì tạm ứng tiền lương được quy định người sử dụng lao động phải cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng. Người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng tiền lương.

 

3. Kết thúc thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự mà không được nhận lại làm việc xử lý thế nào?

Theo phần phân tích nêu trên thì khi người lao động đi nghĩa vụ quân sự, các bên được quyền tạm hoãn hợp đồng lao động. Sau khi người lao động xuất ngũ, người sử dụng lao động phải nhận lại và bố trí công việc để người đó tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Nếu không thực hiện đúng quy định, người sử dụng lao động sẽ bị phạt vi phạm hành chính theo khoản 2 Điều 11 Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 07 triệu đồng đối với người sử dụng lao động thực hiện hành vi Không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Theo đó, người sử dụng lao động là cá nhân sẽ bị phạt từ 03 triệu đồng đến 07 triệu đồng, trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức sẽ bị phạt từ 06 triệu đồng đến 14 triệu đồng (theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022).

Ngoài ra, người sử dụng lao động còn buộc phải nhận người lao động trở lại làm việc, đồng thời phải trả lương trong những ngày không nhận người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (theo điểm b khoản 5 Điều 11 Nghị định 12/2022).

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.