- 1. Việc kiểm tra văn bản được thực hiện theo những phương thức nào?
- 2. Căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra?
- 3. Thời hạn xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật?
- 4. Có những hình thức nào để xử lý văn bản trái pháp luật?
- 5. Trách nhiệm của cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật
- 6. Kết quả xử lý văn bản trái pháp luật phải được công bố như thế nào?
Căn cứ pháp lý:
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;
- Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
1. Việc kiểm tra văn bản được thực hiện theo những phương thức nào?
Song song với việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc kiểm tra văn bản thì việc đa dạng hóa và kết hợp linh hoạt các phương thức kiểm tra văn bản là một yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản QPPL. Phương thức để thực hiện kiểm tra văn bản gồm:
(1) Tự kiểm tra văn bản.
(2) Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền:
- Kiểm tra văn bản do cơ quan, người ban hành văn bản gửi đến;
Ví dụ: Văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi ban hành phải được gửi đến Cục Kiểm tra văn bản QPPL - Bộ Tư pháp và tổ chức pháp chế các bộ có thẩm quyền kiểm tra theo ngành, lĩnh vực; Văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi đến Sở Tư pháp;
- Kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật;
Ví dụ: Khi cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đến Cục Kiểm tra văn bản thì Cục Kiểm tra văn bản phải phân loại, tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền, khi có kết quả thì thông tin cho cá nhân phản ánh biết.
- Kiểm tra văn bản theo địa bàn tại cơ quan ban hành văn bản, chuyên đề, ngành, lĩnh vực.
2. Căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra?
Căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra là văn bản QPPL bảo đảm các điều kiện sau (Điều 107 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP):
- Có hiệu lực pháp lý cao hơn văn bản được kiểm tra;
- Đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra hoặc chưa có hiệu lực tại thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra nhưng đã được thông qua hoặc ký ban hành và sẽ có hiệu lực trước hoặc cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản được kiểm tra.
Văn bản ngưng hiệu lực theo quy định tại Điều 153 của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì không được sử dụng làm căn cứ pháp lý để kiểm tra văn bản từ thời điểm ngưng hiệu lực đến thời điểm tiếp tục có hiệu lực theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Lưu ý rằng:
- Trong trường hợp các văn bản là cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
- Trong trường hợp các văn bản là cơ sở pháp lý để kiểm tra đều do một cơ quan ban hành về cùng một vấn đề nhưng có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
- Văn bản đã được ký ban hành, thông qua chưa có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra nhưng phải có hiệu lực trước hoặc cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản được kiểm tra, bao gồm: Văn bản được đưa vào làm căn cứ pháp lý để ban hành văn bản được kiểm tra và văn bản có liên quan đến việc xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra.
3. Thời hạn xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật?
Theo quy định tại Điều 125 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì thời hạn xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật được quy định như sau:
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận kiểm tra về văn bản trái pháp luật, cơ quan, người đã ban hành văn bản phải tổ chức xem xét, xử lý văn bản đó và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản.
- Trường hợp cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật không xử lý hoặc cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản không nhất trí với kết quả xử lý văn bản thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn xử lý, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra, xử lý báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
- Việc xử lý nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân phải được tiến hành tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.
Ví dụ: Sau khi nhận được Kết luận kiểm tra của Sở Tư pháp về văn bản trái pháp luật do Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành, trong thời hạn 30 ngày, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải xem xét xử lý. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp huyện không xử lý hoặc Sở Tư pháp không nhất trí với kết quả xử lý thì báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo quy định.
4. Có những hình thức nào để xử lý văn bản trái pháp luật?
Khi phát hiện văn bản trái pháp luật thì cơ quan, người có thẩm quyền tùy theo tính chất mức độ sai trái của văn bản mà áp dụng một trong các hình thức xử lý sau (Điều 130 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP):
- Đình chỉ việc thi hành văn bản trái pháp luật: Hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp nội dung trái pháp luật đó nếu chưa được bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc đình chỉ thi hành văn bản sai trái nhằm mục đích ngăn chặn kịp thời hậu quả nghiêm trọng có thể gây ra khi văn bản đó được thực hiện trong thực tế.
Ví dụ: Ngày 08/5/2006, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 1212/QĐ-BTP về việc đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ 14 văn bản trái pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính của 6 địa phương. Sự kiện này cũng đánh dấu lần đầu tiên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã thực hiện quyền “đình chỉ” nội dung trái pháp luật trong văn bản do địa phương ban hành để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, kịp thời đình chỉ việc phát sinh ảnh hưởng do văn bản trái pháp luật gây ra cho xã hội và công dân.
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật: Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản được áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản được ban hành trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung; văn bản vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành. Hình thức bãi bỏ thực chất là việc tuyên bố một văn bản vô hiệu ngay từ thời điểm ban hành.
Bãi bỏ văn bản là hình thức xử lý duy nhất được áp dụng đối với văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL; văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như văn bản QPPL do cơ quan, người không có thẩm quyền ban hành, bởi đây là văn bản trái pháp luật ngay từ thời điểm ban hành.
- Đính chính văn bản: Hình thức đính chính văn bản được thực hiện đối với văn bản có sai sót về căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày. Cơ quan, người ban hành văn bản đính chính văn bản bằng văn bản hành chính.
Trong quá trình kiểm tra phát hiện văn bản chỉ sai về căn cứ pháp lý được viện dẫn, thể thức, kỹ thuật trình bày còn nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp thì đính chính đối với những sai sót đó. Việc đính chính văn bản của Hội đồng nhân dân do Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện.
5. Trách nhiệm của cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật
Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật được thực hiện như thế nào?
Theo quy định tại Điều 134 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật được thực hiện theo quy định sau:
(1) Việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ trái pháp luật của văn bản và hậu quả của nội dung trái pháp luật gây ra đối với xã hội và trên cơ sở tính chất, mức độ lỗi của cơ quan, người đã ban hành, tham mưu ban hành văn bản đó.
(2) Việc xem xét trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân được thực hiện như sau:
- Cơ quan ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật phải tổ chức việc kiểm điểm, xác định trách nhiệm của tập thể và báo cáo cơ quan cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật, đồng thời xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật;
- Cán bộ, công chức trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ lỗi và nội dung trái pháp luật của văn bản, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công chức thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
(3) Cơ quan, người ban hành văn bản khi nhận được kết luận kiểm tra, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản mà không thực hiện việc xem xét, xử lý văn bản trái pháp luật hoặc không thực hiện thông báo kết quả xử lý theo quy định thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Ví dụ:
- Liên quan đến kiến nghị của Bộ Tư pháp về 46 văn bản do Ủy ban nhân dân của 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về ưu đãi, khuyến khích đầu tư trái pháp luật, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1387/QĐ-TTg ngày 29/12/2005, ngoài việc đình chỉ hiệu lực thi hành các quy định về ưu đãi, khuyến khích đầu tư trái pháp luật trong 46 văn bản nêu trên, Thủ tướng Chính phủ cũng đã yêu cầu “... nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm đối với cơ quan, cán bộ, công chức trong tham mưu, soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua, ký và ban hành văn bản có quy định về ưu đãi, khuyến khích đầu tư trái pháp luật”.
- Trên cơ sở báo cáo kết quả kiểm tra văn bản quy định về kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh (Báo cáo số 23/BC-BTP ngày 29/01/2015 của Bộ Tư pháp), Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương tự kiểm tra, xử lý đối với các văn bản đã được nêu tại Báo cáo nói trên của Bộ Tư pháp“...đồng thời nghiêm túc kiểm điểm, xử lý trách nhiệm của tập thể, cá nhân tham mưu soạn thảo, thẩm định, thông qua văn bản có nội dung trái pháp luật”theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.
6. Kết quả xử lý văn bản trái pháp luật phải được công bố như thế nào?
Kết quả xử lý văn bản QPPL trái pháp luật phải được cơ quan, người đã ban hành văn bản đó đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản hoặc niêm yết tại các địa điểm theo quy định. Cụ thể:
- Các cơ quan có thẩm quyền sau khi xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật theo quy định (kể cả trường hợp văn bản được xử lý bằng hình thức đính chính) có trách nhiệm phải công khai quyết định xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật, đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, đăng trên Công báo, đăng trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản hoặc được niêm yết tại trụ sở cơ quan ban hành hoặc các địa điểm khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định (đối với văn bản do cấp huyện và cấp xã ban hành).
- Việc công khai kết quả xử lý văn bản trái pháp luật cũng được áp dụng đối với kết quả xử lý văn bản trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản tự kiểm tra văn bản do mình ban hành.
- Kết quả xử lý văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL; văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như văn bản QPPL do cơ quan, người không có thẩm quyền ban hành phải được gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó văn bản đã được gửi. Trường hợp văn bản đó đã được đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc được niêm yết thì kết quả xử lý cũng phải được công bố trên các phương tiện thông tin đó.
- Mức độ, thời lượng đưa tin về kết quả xử lý văn bản QPPL trên các phương tiện thông tin đại chúng phải tương xứng với việc phổ biến trước đó đối với văn bản có nội dung trái pháp luật đã bị xử lý. Điều này là rất cần thiết, với mục đích để các đối tượng nắm bắt được thông tin, hạn chế hậu quả có thể xảy ra do việc thực hiện văn bản sai trái đó.