Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162
1. Cơ sở pháp lý:
Bộ Luật Dân sự 2015
2. Nội dung:
Khái niệm quyền thừa kế ?
Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế, là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống. Thừa kế là một chế đinh pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản. Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác. Những người có quyền nhận di sản cố thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Đối tượng của thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người đã chết để lại (trong một số trường hợp người để lại tài sản có thể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản). Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã chết không thể chuyển cho những người thừa kế (tiền cấp dưỡng...) vì pháp luật quy định chỉ người đó mới có quyền được hưởng.
Mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, xuất hiện nhà nước, việc chiếm giữ những của cải vật chất trong xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị xã hội. Vì vậy, quyền sở hữu hiểu theo nghĩa khách quan là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước quy định nhằm điểu chỉnh những quan hệ về sở hữu đối với các lợi ích vật chất trong xã hội. Những quy phạm pháp luật đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền sở hữu của các sở hữu chủ trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định các điều kiện, trinh tự dịch chuyển những tài sản của người đã chết cho những người còn sống.
>> Xem thêm: Hương hỏa là gì ? Khái niệm tài sản, đất hương hỏa được hiểu như thế nào ?
Quyền sở hữu và quyền thừa kế đều là những phạm trù pháp lí, song song tồn tại trong cùng một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Giữa chúng có mối liên quan mật thiết và chặt chẽ, từ chỗ pháp luật quy định cho công dân có quyền sở hữu tài sản và cũng dựa vào đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong quan hệ thừa kế.
Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội tư bản - những xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì thừa kể là thừa hưởng tư liệu sản xuất của người đã chết để duy trì sự bóc lột sức lao động người khác và củng cố địa vị xã hội của những người thừa kế. Trong chế độ XHCN, một chế độ dựa trên nền tảng công hữu hoá tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai, rừng núi, sông, hồ... nhà nước là người đại diện cho nhân dân nắm giữ tư liệu sản xuất để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và bảo vệ an ninh quốc phòng. Quyền thừa kế là thừa hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà nhà nước cho phép chuyển dịch. Đối tượng của thừa kế là những tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng như: nhà máy, cổ phần và các máy móc phục vụ cho sản xuất công, nông nghiệp...
Công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác, Nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của công dân (trừ trường hợp vi phạm Điều 621 bộ luật dân sự năm 2015). Mặt khác, Nhà nước khuyến khích công dân bằng sức lao động của mình tạo ra nhiều của cải cho xã hội, làm giàu cho gia đình, làm cho đất nước văn minh và phồn vinh.
Chủ thể của quyền thừa kế
Về chủ thể của quyền thừa kế trong trường hợp này bao gồm: Quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản.
Về quyền thừa kế của người để lại di sản:
Theo Bộ luật dân sự 2015 thì mọi cá nhân đều có quyền định đoạt tài sản của mình thể hiện dưới dạng di chúc trước khi qua đời. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, thành phần, tôn giáo, địa vị chính trị xã hội…đều có quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
– Trường hợp có di chúc của người chết để lại thì việc phân chia di sản phải tuân theo ý nguyện của người lập di chúc đã ghi rõ trong di chúc.
– Trường hợp người chết không có di chúc để lại thì việc phân chia di sản sẽ tuân theo quy định của pháp luật về thừa kế tại Bộ luật dân sự 2015.
Quyền thừa kế của người nhận di sản:
Mọi cá nhân đều có quyền nhận di sản trong trường hợp thuộc diện nhận di sản theo pháp luật hoặc theo di chúc. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
– Trường hợp người nhận di sản theo di chúc thì căn cứ vào quyền thừa kế của họ, họ sẽ được hưởng phần di sản mà người đã chết để lại theo đúng những điều khoản trong di chúc. Người được thừa kế theo di chúc có thể là bất kỳ ai theo ý chí của người lập di chúc.
Lưu ý: Người được thừa kế theo di chúc không được là người làm chứng cho di chúc hoặc công chứng, chứng thực di chúc.
– Trường hợp người nhận di sản theo quy định của pháp luật thì căn cứ vào hàng thừa kế để xác định phần di sản mà họ sẽ nhận được. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
>> Xem thêm: Thừa tự là gì ? Quy định pháp luật về thừa tự
+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Theo Bộ Luật Dân sự, tại Điều 609, 610 quy định về quyền thừa kế như sau:
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Theo quy định trên có thể thấy, chủ thể để lại thừa kế chỉ có thể là cá nhân, có thể định đoạt di sản thừa kế thông qua việc để lại di chúc, nội dung di chúc sẽ thể hiện ý chí của người để lại thừa kế về việc định đoạt di sản thừa kế và người được hưởng thừa kế. Chủ thể có quyền hưởng di sản thừa kế bao gồm cả cá nhân và tổ chức: cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật; còn tổ chức chỉ có thể hưởng di sản thừa kế theo di chúc. Người thừa kế theo quy định tại Điều 631 Bô luật Dân sự nếu là cá nhân thì phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Theo quy định của của pháp luật dân sự, chế độ trách nhiệm tài sản của cá nhân là vô hạn, tức không mặc nhiên chấm dứt khi đó chết, bởi vậy pháp luật đã quy định về chế định thừa kế giúp giải quyết vấn đề liên quan đến nghĩa vụ tài sản của người chết để lại theo đó nghĩa vụ khi một người chết đi sẽ được chuyển tiếp cho người thừa kế của người đó trong phạm vi di sản để lại. Cụ thể tại các Điều 614 và 615 quy định như sau:
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
Nguyên tắc thực hiện:
Theo quy định trên, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết đối với phần di sản được hưởng trước hết do tất cả những người được hưởng di sản thỏa thuận, đây là tinh thần nổi bật trong các quan hệ dân sự - đó là tôn trọng sự tự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên. Nếu các bên không có thỏa thuận nào khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo đó, nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được thực hiện:
Thứ nhất, là trong phạm vi di sản do người chết để lại. Có thể hiểu đơn giản như sau, khi người một người có nghĩa vụ tài sản phải thực hiện đối với bên có quyền thì khi người đó chết đi, tài sản của người đó sẽ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ mà người đó chưa thực hiện khi còn sống, tức nghĩa vụ của ai thì lấy tài sản của người đó để trả. Mặt khác, đối với người được hưởng thừa kế đó, họ có quyền và lợi ích đối với di sản họ được hưởng khi một người chết đi thì đồng thời họ cũng phải có nghĩa vụ tương ứng với phần di sản họ được hưởng.
Do vậy, nguyên tắc thứ hai khi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là thực hiện tương ứng và không vượt quá phần tài sản mà người được hưởng di sản đã nhận. Quy định này hoàn toàn hợp lý và thuận lẽ tự nhiên, bởi bản chất người được hưởng di sản hoàn toàn không có nghĩa vụ gì đối với phần nghĩa vụ mà người chết phải thực hiện nếu họ còn sống, nhưng vì họ đã được nhận một phần di sản- tức họ có lợi ích- từ người chết nên họ phải có trách nhiệm một phần nào đó đối với nghĩa vụ mà người chết để lại, do đó họ phải sử dụng phần di sản mình đã được nhận đó để thay người chết thực hiện nghĩa vụ của người chết trong giới hạn giá trị của phần di sản họ được nhận, ngoài phạm vi đó ra thì họ không có nghĩa vụ phải sử dụng tài sản riêng của mình để thực hiện nghĩa vụ của của người chết để lại.
Nguyên tắc thứ ba là mọi chủ thể được hưởng di sản thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại không kể là cá nhân hay không phải là cá nhân.
Ngoài ra cần lưu ý rằng, vì việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại được những người thừa kế thực hiện trong phạm vi di sản thừa kế nên trường hợp nếu người theo di chúc hoặc theo pháp luật có quyền hưởng di sản thừa kế nhưng họ từ chối nhận di sản thì họ không có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, vì thực tế họ không nhận di sản của người chết để lại.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê