1. Quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh đòi nợ thuê như thế nào?

Căn cứ tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, việc kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê đã được bổ sung vào danh sách các ngành, nghề cấm kinh doanh từ ngày 01/01/2021. Điều này có nghĩa là việc tiếp tục hoạt động đòi nợ thuê sẽ vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt.

Theo quy định của Điều 6, các hoạt động kinh doanh bị cấm bao gồm, nhưng không giới hạn, các hoạt động sau đây: kinh doanh chất ma túy, kinh doanh hóa chất và khoáng vật cấm, kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên, kinh doanh mại dâm, mua bán người và các hoạt động liên quan đến sinh sản vô tính trên người, kinh doanh pháo nổ, và kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

Tuy nhiên, việc sử dụng sản phẩm quy định tại các điểm a, b và c trong khoản 1 Điều này cho các mục đích như phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, bảo vệ quốc phòng, và an ninh được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Vì vậy, để tuân thủ pháp luật, việc đòi nợ thuê không được tiếp tục thực hiện, vì nó đã được bổ sung vào danh sách các ngành, nghề cấm kinh doanh. Nếu vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức có thể đối mặt với hình phạt và xử lý theo quy định của pháp luật.

 

2. Thuê người đòi nợ có phạm tội không?

Theo quy định nêu trên, việc đầu tư kinh doanh đòi nợ là không hợp pháp và nếu vi phạm, các cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hoạt động này sẽ phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

Mặc dù nhu cầu đòi nợ đến hạn của các chủ nợ là chính đáng và cần thiết để bảo vệ quyền lợi của họ, tuy nhiên việc chủ nợ thuê các đối tượng xã hội đen và sử dụng các biện pháp đòi nợ trái pháp luật là hoàn toàn không chấp nhận được và đáng lên án. Sử dụng các đối tượng xã hội đen trong quá trình đòi nợ là một hành vi phi pháp và đồng nghĩa với việc đưa ra sự đe dọa, bạo lực và sự khủng bố đối với người khác. Những biện pháp như đe dọa, đánh đập, phá hoại tài sản hoặc sử dụng các hành vi khủng bố để uy hiếp khách nợ không chỉ là hành vi trái pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức và an ninh của cộng đồng.

Khi tiến hành việc đòi nợ, đa số các băng nhóm xã hội đen thường sử dụng mọi biện pháp để tạo áp lực và buộc con nợ phải trả tiền. Các đối tượng thường áp dụng hình thức bạo lực hoặc các thủ đoạn gây sức ép lên tinh thần và tính mạng của con nợ nhằm đạt được mục đích thu nợ. Tất cả những hành vi này đều là cố ý đe doạ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của người khác.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tùy thuộc vào mức độ, tính chất và hậu quả của hành vi, người thực hiện hành vi có thể chịu trách nhiệm hình sự về một trong các tội sau đây:

- Tội đe dọa giết người theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cao nhất là 7 năm tù.

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, với khung hình phạt cao nhất là tù chung thân.

- Tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cao nhất là 5 năm tù.

Những hình phạt nghiêm khắc này nhằm đảm bảo trật tự công cộng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của mọi người. Việc xử lý và trừng phạt những hành vi đe dọa và uy hiếp trong việc đòi nợ là cần thiết để đảm bảo an ninh và công lý trong xã hội.

Ngoài ra, các đối tượng xã hội đen thường tự ý chiếm đoạt tài sản của con nợ với lý do là để bù đắp khoản tiền mà họ đang nợ. Thực chất, đây là những hành vi cưỡng đoạt tài sản, thậm chí là cướp tài sản. Trong trường hợp này, người đi đòi nợ thuê có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội danh sau:

- Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 của Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cao nhất là án chung thân, và có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

- Tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù giam, hoặc có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Mặc dù nhu cầu đòi nợ của chủ nợ là chính đáng, tuy nhiên, nếu thuê các đối tượng xã hội đen và sử dụng những biện pháp đòi nợ trái pháp luật, những hành vi này có thể gây tổn hại đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con nợ. Trong trường hợp này, không chỉ các đối tượng xã hội đen - người trực tiếp thực hiện hành vi đòi nợ - phạm tội, mà chủ nợ cũng có thể phạm tội và trở thành đồng phạm, theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc tuân thủ pháp luật và tránh sử dụng các hình thức đòi nợ trái pháp luật là điều cần thiết để đảm bảo công lý và trật tự trong xã hội.

 

3. Làm sao để đòi nợ hợp pháp?

Nguyên tắc cơ bản khi đòi nợ đó chính là không được thực hiện những hành vi mang tính chất côn đồ, đe dọa, uy hiếp tinh thần, bắt giữ trái pháp luật hoặc gây ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác, gây mất trật tự công cộng.

Nếu phát hiện con nợ có dấu hiệu lừa đảo và chiếm đoạt tài sản, người bị nợ có thể tố cáo lên Cơ quan công an để đề nghị xử lý kịp thời.

Để đòi nợ theo pháp luật, người đòi nợ cần gửi đơn khởi kiện ra Tòa án để giải quyết. Các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Viết đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ.

Nội dung và hình thức của đơn khởi kiện được quy định cụ thể tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:

- Đơn khởi kiện phải ghi rõ ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện.

- Ghi tên Tòa án nhận đơn khởi kiện.

- Ghi tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, kèm theo số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Nếu các bên đã thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ, phải ghi rõ địa chỉ đó.

- Ghi tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức, kèm theo số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện, ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện.

- Ghi tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, kèm theo số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Ghi rõ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm và yêu cầu cụ thể Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Ghi họ, tên và địa chỉ của người làm chứng (nếu có).

- Kèm theo danh mục tài liệu, chứng cứ liên quan.

Bước 2: Nộp hồ sơ.

Người đòi nợ có thể nộp hồ sơ trực tiếp, gửi bưu điện hoặc gửi trực tuyến đến Tòa án cấp huyện nơi người vay tiền cư trú, làm việc.

Bước 3: Tòa án thụ lý và giải quyết.

Sau khi nhận đơn khởi kiện, nếu Tòa án thuộc thẩm quyền giải quyết, Tòa án sẽ yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí. Sau đó, Tòa án sẽ tiến hành xem xét và triển khai xét xử sơ thẩm.

Như vậy, để tránh việc đòi nợ bất hợp pháp, cá nhân và tổ chức cho vay phải tuân thủ các bước, trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật như đã được trình bày.

Quý khách có thể tham khảo nội dung bài viết sau của Luật Minh Khuê: Mẫu đơn đòi nợ gửi công an mới nhất năm 2023

Nếu bạn còn có bất kỳ câu hỏi hoặc thắc mắc nào khác liên quan đến nội dung trên, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi. Chúng tôi luôn sẵn lòng hỗ trợ bạn. Để được tư vấn và giải đáp trực tiếp, bạn có thể gọi vào số điện thoại tổng đài tư vấn của chúng tôi: 19006162. Nếu bạn muốn gửi câu hỏi yêu cầu hoặc cần hỗ trợ chi tiết hơn, xin vui lòng gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi sẽ cố gắng phản hồi nhanh chóng và cung cấp thông tin cụ thể để giúp bạn.