1. Khái niệm học thuyết đức trị

Thuyết đức trị là hệ tư tưởng của Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) – Nhà tư tưởng cổ đại Trung Quốc người sang lập nên nho giáo – hệ tư tưởng giữ vị trí chủ đạo trong hơn hai ngàn năm trong đời sống tinh thần, ý thức hệ và nền văn hóa Trung Quốc. Đức trị là học thuyết chính trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người phương Đông, chiếm địa vị thống trị tư tưởng trong suốt thời kỳ lịch sử ở Trung Quốc và nhiều nước Đông Á, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Singapore…để từ đó hình thành nên không gian “Văn hóa Khổng giáo” của Đông phương. Đức trị là học thuyết của người quân tử – mẫu người mà các nhà đức trị đề cao, kỳ vọng vào khả năng gánh vác sứ mệnh thời đại của họ. Theo quan niệm của đức trị, quân tử phải hội đủ các điều kiện là: đạt Đức và đạt Đạo. Đạo của người quân tử là tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ; Đức của người quân tử là Nhân –Trí – Dũng. Nhân là lòng yêu thương con người, Trí là hiểu người và Dũng được hiểu là sức mạnh hay lòng can đảm. Trong đó, Nhân được xem là phạm trù xuất phát điểm, hạt nhân cốt lõi của học thuyết đức trị – cái “cốt” lý luận giúp các nhà cai trị lập lại trật tự và xây dựng một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự theo lý tưởng đại đồng. Đức trị cho rằng, đạo làm người, với nước phải thờ vua, trong nhà phải thờ cha. Kẻ làm tôi lấy chữ Trung làm đầu, con đối với cha lấy chứ Hiếu làm trọng. Trung – Hiếu đã trở thành nguyên tắc đạo đức cao nhất của con người trong xã hội, là cái “cương cường” của một quốc gia. Từ những quan điểm trên, các nhà đức trị cho rằng: chính trị là sự tiếp tục của đạo đức và chủ trương nâng đạo đức lên thành đường lối chính trị – gọi là đức trị.

 

2. Đức trị trong tiếng anh

Đức trị trong tiếng Anh là “rule of virtue”. Học thuyết đức trị chủ trương lý luận dung đức để cai trị xã hội.

 

3. Quan niệm Đức trị của Khổng Tử

Đức trị là chủ trương lớn của Khổng Tử dùng đức để cai trị xã hội. Trước Khổng Tử cũng đã có nhiều người không chỉ trong ý thức mà trên thức tế đã dung đức với ý trong việc cai trị dân phải dùng Đức để làm cho dân theo và cũng mới tạo được hạnh phúc cho dân, trong đó người cai trị phải dung đức để cảm hóa,giáo dục dân thành người tốt và nhờ thế đất nước mới thịnh trị, nhưng phải đến Khổng Tử thì Nho giáo nói chung và chủ trương dung đức trong cai trị dân mới được xây dựng thành học thuyết, thành giáo lí. Khổng Tử cho rằng trong đạo làm người chính trị là việc lớn và đối với con người cái mau thành đật nhất cũng là chính trị. Chính trị là nơi kì vọng nhất của nho gia và về chính trị Khổng Tử là người nói nhiều nhất đến tư cách người cầm quyền, đến bổn phận của họ phải sửa mình, phải làm gương cho dân, giáo hóa dân. Ông Nhân mạnh đến mối quan hệ gắn bó của đạo đức với chính trị và có thể nói ông đã đạo đức hóa chính trị. Ông phê phán xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu là một xã hội “vô đạo” và ông muốn lập lại một xã hội “có đạo”.

Đạo đức nói ở đây không hẳn theo nghĩa thông thường, trong ngôn ngữ hang ngày của mỗi người để đánh giá, nhận xét hành vi, xử sự của chính mình hoặc của người xung quanh: Tốt xấu, phải trái, đúng sai mà còn là thuộc tính không chỉ của riêng con người mà của chung trời đất. Nhà nho nhìn mọi thứ đều qua lăng kính đạo đức. Có thể nói thới một thế giới quan đạo đức của nhà no và đạo đức đồng thời còn là phương châm trị quốc. Khổng Tử nói: “làm chính trị bằng đức độ cũng ví như sao Bắc đẩu cứ tưởng đứng nguyên một chỗ mà các sao khác phải hướng về chầu hầu” (Luận ngữ - Vi chính). Ông còn nói, cai trị dân bằng chính lệnh, đưa dân vào khuân khổ phép bằng hình phạt, người dân sợ mà tránh điều tội lỗi nhưng trở nên vô sỉ. Dắt dân dân bằng đức đọ, đưa dân vào khuân phép bằng lễ, người dân sẽ biết xấy hổ mà không làm bậy, mà lại có chí hướng vươn lên đến chỗ hoàn thiện (Luận ngữ - vi chính).

Về chính sự, Khổng Tử quan tâm đến việc cải thiện hoàn cảnh kinh tế của nhân dân, phải làm cho dân giàu lên và phải giáo hóa họ. Chủ trương đức trị và lễ giáo của Khổng Tử có mục đính chính trị rất rõ rang: ổn định trật tự xã hội, thuần hóa dân chúng, mặt khác cũng nhằm phản đối nền chính trị hà khắc, tàn bạo dễ làm cho dân chúng oán hận mà nổi lên chống đối. Tỏng quan hệ vua – tôi; cha – con, các quan hệ chủ yếu của xã hội phong kiến, Khổng Tử chủ trương: “ Quân quân – Thần thần – Phụ phụ - Tử tử” (Vua phải ra vua, làm tròn phận sự của vua, tôi phải ra tôi làm tròn phận sự của tôi, giữa cha và con cũng vậy, cha phải cho ra cha và con phải cho ra con).

Như vậy, quan niệm đức trị của Khổng Tử thể hiện rất rõ ràng là người bảo thủ chủ trương duy trì, củng cố chế độ quân chủ chuyên chế. Ông chỉ lên án những cái hà lạm, tắc trách, quá đáng của chế độ đó để làm mất lòng dân có thể dẫn đến sự suy vong của chế độ mà ông mong muốn hết lòng phục vụ. Trong tư duy của ông có sự phân biệt rất rõ ràng người cầm quyền và người dân là tầng lớp bị trị, ông nhấn mạnh đến kẻ sang - người hèn và chức phận của người dân phục tùng nhà cầm quyển. Ông ví đức của người cầm quyền như ngọn gió, còn đức của người dân như ngọn cỏ và gió thổi chiều nào thì ngọn cỏ phải ngả theo chiều đó.

 

4. Quá trình phát triển của thuyết Đức trị

Xét về mặt lí thuyết, nền chính trị đức hoá là một bước tiến lớn trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại. Có thể xem đức trị là một lời khuyên đầy tinh thần trách nhiệm và tâm huyết của nho giáo đối với giai cấp cầm quyền vì phải tính đến sức mạnh và sự phản kháng, phẫn nộ của dân, mà SỨC dân thì có thể ví như nước có thể nâng thuyền và cũng có thể lật thuyền. Tuy nhiên, trên thực tế đó là một lời khuyên không dễ dàng, không phải kẻ cầm quyền nào cũng có thể sẵn sàng làm theo và khi đi vào cụ thể cũng phải thấy cho được tính phiến diện của bản thân thuyết đức trị. Nói đức trị là nói đến đức độ của kẻ cầm quyền - một nhân tố chủ quan, phụ thuộc vào cá nhân mà cá nhân thì có thể nay người này, nhưng mai là người khác với đức độ rất khác nhau, nền chính trị từ đó có thể thay đổi vì thay đổi con người. Nói đến đức của kẻ cầm quyền cũng không thể không tính đến tâm trạng, trạng thái tinh thần, tâm lí của người đó, mà đó là những yếu tố như thời tiết, sáng nắng nhưng trưa, chiều đã có thể mưa, có thể làm thay đối cả bầu trời. Như vậy, nó rất đúng, rất cần nhưng chưa đủ. Nói đến chính trị cai quản xã hội là nói đến quyền lực nhà nước thì phải dùng pháp luật để tổ chức quyền lực, điều hành, quản lí xã hội. Pháp luật không đồng nghĩa với chế tài, hình phạt đưa đến tù tội. Nhà nước ban hành pháp luật là cách để đem đến cho từng người dân những khuôn mẫu cho hành vi xử sự của họ, hướng dẫn mọi người không phải bằng một lời nhắc nhở rất ít nội dung mà là cung cấp một thứ khuôn thước hướng dẫn một cách cụ thể làm theo ý chí, sự chỉ đạo của chính quyền đối với từng người dân. Không bằng pháp luật khó mà nói tới sự cai trị, điều hành có hiệu quả. Hơn nữa, cũng phải nói đến tính đạo đức của các quy định pháp luật, khi nó được ban hành là xuất phát từ nhu cầu của xã hội, đáp ứng sự bức xúc của tình hình, có tính đến một cách hợp lí lợi ích của các tầng lớp dân cư. Cũng phải thấy, không phải ai cũng sẵn sàng làm theo pháp luật, có khi còn chống đối. Bản thân pháp luật, để được tôn trọng, chấp hành phải được bảo vệ và chế tài kèm theo từng điều luật chỉ là lời nhắc nhở, một tín hiệu đánh đi trước nhằm lưu ý mọi người tính đến cái hậu quả không hay. Xét về mặt đó, chế tài có tính đạo đức cao. Không nên đối lập đạo đức với pháp luật nói chung, một cách máy móc. Cũng chính vì thế, trong thực tế vận hành quyền lực của các nhà nước, việc vận dụng “đức trƒ' ở đâu cũng. cần có pháp luật hình sự và các cơ quan tư pháp đổi kèm. Người ta nói đó là một cách vận dụng “đức tr” phải kết hợp với “pháp trƒ, hay còn nói một cách hình tượng “frong pháp ngoài đức” là công thức mà các triều đại phong kiến Trung Quốc, Việt Nam vận dụng rất phổ biến với một bộ luật hình sự và hệ thống toà án rất nghiêm khắc.

 

5. Quan điểm đức trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Đức trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền là một nhà nước do Đảng chân chính và cách mạng lãnh đạo, có những con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. “Đức trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang hàm ý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; vừa nêu gương, vừa tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên, cho nhân dân. Theo Người, nếu đạo đức bị tha hóa thì dù pháp luật có hoàn thiện bao nhiêu cũng khó thực hiện được trong thực tiễn. Pháp luật phải truyền tải được những giá trị cốt lõi của đạo đức xã hội, những chuẩn mực đạo đức của dân tộc.

Dưới chế độ mới, bộ máy nhà nước được thiết lập theo nguyên tắc “mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân”, đưa nhân dân lao động trở thành người chủ của xã hội, chủ thể gốc của quyền lực. Vì thế, ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(1). Đây là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam của Người.

Nền chính trị mà Hồ Chí Minh xây dựng là một nền chính trị đạo đức. Đạo đức cao nhất mà Người đưa ra là “đạo đức cách mạng”. Người cho rằng, đạo đức là để phục vụ cho xã hội, cho nhân dân, cho sự nghiệp giải phóng loài người. Tư tưởng đạo đức và tư tưởng về chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không tách rời nhau mà thống nhất với nhau. Các phạm trù của học thuyết “đức trị” đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển, thấm đượm bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính chiến đấu để trở thành những phạm trù “Đạo đức cách mạng”. Nội dung của “Đạo đức cách mạng” Hồ Chí Minh có sự khác biệt về chất so với đạo đức phong kiến. Người khẳng định: “...Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

Như vậy, các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ “đức trị”, song đã được Người vận dụng, sáng tạo, bổ sung phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của đất nước và con người Việt Nam. So với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Hồ Chí Minh về “đạo đức cách mạng”, về “đức trị” thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo, có sự kế thừa và phát triển trên tinh thần khoa học nhưng thấm đẫm tinh thần nhân văn, dân tộc.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)