1. Tư tưởng pháp trị là gì?

Đây là học thuyết chủ trương dùng pháp luật cai trị xã hội, trị quốc an dân. Pháp trị là sáng tạo của người Trung Hoa. Nhà tư tưởng của pháp trị được cho là Hàn Phi (281 – 233 TCN). Pháp trị là việc vua (hoặc giới cầm quyền) có quyền ban hành pháp luật để cai trị (hay nói bằng ngôn từ hiện đại là để quản lý). Mặc dù pháp luật được tuân thủ tuyệt đối, nhưng ban hành pháp luật như thế nào lại là quyền độc đoán của vua (hoặc của giới cầm quyền).

2. Tư tưởng đức trị là gì?

Đức trị là học thuyết chính trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người phương Đông, chiếm địa vị thống trị tư tưởng trong suốt thời kỳ lịch sử ở Trung Quốc và nhiều nước Đông Á, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Singapore…để từ đó hình thành nên không gian “Văn hóa Khổng giáo” của Đông phương.

3. Tổng quan về Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông (1442 – 1497) tên huý là Lê Tư Thành, là con trai thứ của Lê Thái Tông và Ngô Thị Ngọc Dao. Ông không chỉ là vị vua anh minh đã phát triển và hoàn thiện chế độ phong kiến Việt Nam đến cực thịnh trong thế kỷ XV, ông còn là là nhà chính trị, nhà văn, nhà quân sự, nhà văn hoá, nhà tư tưởng lớn.

Di thảo của ông để lại rất phong phú: Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, Quốc triều thư khế thể thức, Hồng Đức Quốc âm thi tập, Quỳnh uyển cửu ca, đặc biệt là Bộ luật Quốc triều hình luật. Trong đó, có chứa đứng nhiều giá trị tư tưởng quý báu. Ở trong bài viết này, chúng tôi chi tập trung tìm hiểu tư tưởng của ông về sự kết hợp giữa đức trị với pháp trị qua một số tác phẩm và hoạt động thực tiễn phong phú của ông. Từ đó chỉ ra các cơ sở khách quan và chủ quan cho sự hình thành tư tưởng này, nội dung cơ bản của nó, một số đóng góp có giá trị và hạn chế của tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, vận dụng nó vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.

4. Cơ sở hình thành cho tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị của Lê Thánh Tông

Trước hết, chúng ta đi vào tìm hiểu cơ sở hình thành cho tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị ở Lê Thánh Tông. Trở lại lịch sử cuối thế kỷ XIV nhà Trần suy thoái khủng hoảng, xã hội loạn lạc, trong lúc đó Hồ Quý Ly đã từng bước thâu tóm quyền lực và thực hiện cướp ngôi nhà Trần lập ra nhà Hồ. Sau khi lên ngôi mặc dù nhà Hồ đã rất cố gắng đưa ra nhiều cải cách đặt ra nhiều thể lệ pháp luật mới nhằm ổn định đất nước, nhưng do chưa tạo ra được sự đồng thuận trong xã hội, làm mất lòng dân nên nhà Hồ không thể tạo ra sự ổn định xã hội thêm nữa lại gây ra sự chống đối rối ren, nhân dân khốn khổ. Lợi dụng tình hình này, nhà Minh đã mượn cớ “phù Trần diệt Hổ” để xâm lược Việt Nam. Nhà Hổ đã nỗ lực chống trả nhưng lòng dân không thuận là lý do chính khiên nhà Hồ thất bại nhanh chóng. Đất nước phải lầm than hơn hai mươi năm dưới ách đô hộ của nhà Minh. Nhà Minh áp dụng thiết quân luật hà khắc để đè nén nhân dân ta. Song với tinh thần quật khởi truyền thống, các cuộc khởi nghĩa kháng Minh đã liên tục nổ ra khắp cả mọi miền mà đỉnh cao, tập hợp được đông đảo khối đại đoàn kết toàn dân là khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo.

Với sự hoạch định chiến lược, sách lược của Nguyễn Trãi sau mười năm gian khổ khởi nghĩa đã giành được thắng lợi lập nên nhà Lê sơ với ba vị vua đầu triều là Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông. Lê Nhân Tông đã bị người anh là Lê Nghi Dân phản biến giết chết để cướp ngôi, nhưng chỉ tám tháng sau các triều thần đã phế bỏ Lê Nghi Dân và tôn phò Lê Tư Thành lên ngôi (tức vua Lê Thánh Tông). Rút ngay kinh nghiệm của các tiền nhân, kế thừa bài học đã được Nguyễn Trãi tổng kết, tiếp biến những tinh hoa của thời đại mình, Lê Thánh Tông đã xây dựng lên đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị một cách rõ nét, có hiệu quả. Nhờ đó trong 38 năm trị vì ông đã đưa đất nước lên đỉnh cao về mọi phương diện. Rõ ràng thành quả đó có vai trò vô cùng quan trọng của đường lối cai trị đúng đắn. Cơ sở khách quan cho việc hình thành tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị chính là toàn bộ sự phát triển lịch sử xã hội Việt Nam đạt tới đến trước thời Lê Thánh Tông. Đặc biệt là các thành quả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, đạt tới trong hơn hai mươi năm, trải qua ba đời vua đầu triều Lê sơ. Lê Thánh Tông đã được thừa hưởng một cách chính danh và vẻ vang các thành quả của cha Ông mình. Nhà nước Lê sơ ra đời là thành tựu của sự nghiệp kháng Minh vẻ vang, lại có sự góp sức của nhà chiến lược tài ba Nguyễn Trãi đã đặt những nền móng cơ bản nhất cho cả kiên trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng.

5. Tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị của Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông là người tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị đã có tiền đề trực tiếp từ các đời trước. Như ta đã biết, các triều Lý, Trần để xây dựng và ổn định đất nước, bảo vệ vương triều ít nhiều đều đã tiếp biến các yếu tố của Nho – Phật –  Đạo trên nền tảng tinh thần dân tộc yêu nước thương dân để đề ra đường 101 cai trị dựa trên tình thương đạo đức kết hợp với hình pháp nhưng ảnh hưởng của Phật giáo còn rất rõ nét đậm đà. Sang thời Lê sơ, bằng cách gia tăng vai trò của vua và triều đình/ đề cao vai trò của học thuyết Nho giáo dần dần coi đó là cốt tủy của hệ tư tưởng vì thế đường lối kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị trở thành xu hướng chủ đạo và trở nên đặc biệt rõ nét ở Lê Thánh Tông. Cụ thể hơn nữa, chúng ta thây khuynh hướng xây dựng đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị đã được Lê Thái Tổ khẳng định khi ông chủ trương:

“Từ xưa đến giờ trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn. Cho nên học tập người xưa đặt ra pháp luật, để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện ác, điều thiện thì làm, chẳng lành thì tránh, chớ đến nỗi phạm pháp”‘.

Lê Thái Tông đã kế thừa đường hướng cai trị đó và nâng cao hơn khía cạnh chuẩn mực hoá, pháp luật hoá các nội dung đạo đức của Nho giáo vói sự trợ giúp của Nguyễn Trãi. Ông đã sớm thấy được nguy cơ thoái hoá biến chất, sự lạm dụng quyền lực của đội ngũ quan lại, trong thời bình, nhiều lần ông huân dụ các quan đại thần văn võ:

“Các người không chịu giữ phép nước như trước đây. Từ nay về sau coi quân trị dân hay làm việc gì đều lên hết sức công bằng, yêu thương quân dân, không được riêng tây, nếu không sửa đối lỗi lẩm lớn nhất định sẽ bị trị tội nặng”.

Vì vậy, ông được sử thần Ngô Sĩ Liên đánh giá cao vể đường hướng cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị:

“Vua là bậc hùng tài đại lược, tuyên đoán, chủ động khi mới lên ngôi nghiền ngẫm tìm phương trị nước, đặt chế độ, ban sách vở, chế tác lễ nhạc, sáng suốt trong chính sự, thận trọng trong hình ngục, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp”.

Đến vua Lê Nhân Tông, ông có sự nỗ lực thực thi tư tưởng cai trị Đức trị kết hợp với Pháp trị và có đóng góp trong phương diện tu dưỡng đạo đức bản thân để làm mẫu mực cho trăm họ, kiểm soát uốn nắn, răn đe những kẻ phạm tội, phạm luật, vua thường xuyên thực hành kiểm tra thực thi pháp luật:

“Lệnh cho khắp quan lại và dân quân phải bày tỏ những điều có thể xoay được lòng trời, dập hết tai biên, hãy thẳng thắn nói ra, chớ nên ẩn giấu, để giúp trẫm sửa chữa những thiêu sót”.

Ông đã chú trọng vận dụng tư tưởng pháp trị thưởng hậu, phạt nặng, nhắc nhở các quan lại phải giữ đức theo luật:

Nhà nước đã có quy định lương bổng để giữ liêm khiết, lại có ban bố-phép tắc để theo đó mà làm. Nay bọn các ngươi không chịu giữ phép, khi xét kiện tụng thì lo nhận hối lộ mà bẻ cong phép nước, khiên những người đi đường ai cũng than oán. Xét mối tệ này hẳn không phải là việc nhỏ. Nay các ngươi phải gột rửa lòng mình, giữ thân liêm khiết, gắng gỏi việc công, yêu thương quân dân, khiến chúng dần được yên nghiệp, thì các ngươi cũng được yên nghiệp. Nếu vẫn mê muội không chừa, bị người cáo giác hoặc dò xét được thực trạng sẽ bị trị nặng hom luật thường hai bậc. Quan trên và đồng liêu không biết khuyên răn, thì khi bị phát giác cũng bị trị tội theo luật và cắt phần lương bổng”.

Điểm lại như vậy có thể thấy đều đời Lê sơ đã tạo lập nên những tiền đề khách quan khá quan trọng giúp ta có thể hiểu được tại sao Lê Thánh Tông đã có thể phát triển hoàn thiện tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị đạt được tính kinh điển trong chế độ phong kiên Việt Nam. Nêu thiếu những điều kiện này khó có thể đạt được bước nhảy mới về chất trong tiên trình phát triển của lịch sử tư tưởng dân tộc. Suốt 38 năm ở ngôi với rất nhiều hoạt động sáng tạo tư tưởng và hoạt động thực tiễn phong phú, tựu trung lại, ông đã thể hiện một cách nhất quán đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị một cách có hiệu quả đem lại những chuyển biến lớn lao cho đất nước. Ông đã trực tiếp điều hành, chỉ đạo sâu sát, thể hiện năng lực kiệt xuất can dự vào rất nhiều các lĩnh vực: hoạt động chính trị quản lý nhà nước – kinh tế – giáo dục – văn hoá – quân sự – ngoại giao. Tất cả những hoạt động đó đều góp phần thúc đẩy xã hội Việt Nam tiên lên. Nói cách khác, đến Lê Thánh Tông, đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị đã được ông trực tiếp nêu gương thực hiện, ông đã xác lập được vai trò động lực của một vị hoàng đế có đức, có tài toàn năng, trực tiếp hoạch định chương trình phát triển đất nước và thực thi điều hành một nhà nước mạnh, có xu hướng toàn trị và cực quyền. Chúng tôi muốn nói rằng để thực hiện tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị rất cần đến nhân tố chủ quan, hội tụ được những yêu cầu cao và toàn diện. Đối với Lê Thánh Tông, trước khi lên ngôi, ông đã có thời gian được học tập văn võ song toàn. Ông dày công nghiên cứu kinh điển Nho giáo và Bách gia Chư Tử. Dòng tộc nội, ngoại của ông đều có võ công oanh liệt và nhân đức, ông có sự kế thừa tư chầt thông minh và tài năng toàn diện nên đã thu hút được sự tín tưởng của quần thần nên triều thần đã đồng lòng tôn phò ông lên làm hoàng đế. Ở cương vị này, ông có cơ hội để bộc lộ tài năng xuất chúng. Theo xu hướng đã hình thành từ những giai đoạn trước, ông đã chú tâm tiếp biến Nho học trên tinh thần dân tộc yêu nước, thương dân, vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn nhờ sự kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị, phát huy tối đa các nhân tố chủ quan và khách quan để phục vụ cho dân tộc.

Nội dung tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị đã có bước phát triển mới thể hiện rõ nhất ở việc hoàn thiện nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mạnh tập trung quyền lực vào trong tay nhà vua anh minh. Nhà nước của ông là nhà nước chuyên chế quan liêu kiểu phong kiến phương Đông được ông trực tiếp chỉ đạo theo tinh thần Nho giáo can dự vào mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế giáo dục, văn hoá cho đến cả đời sống, phong tục, tập quán ở làng, xã,…sự hệ thống hoá bộ máy nhà nước còn được hoàn thiện thêm bởi hệ thống pháp luật chặt chẽ, bộ máy chuyên chính, quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ cho chế độ phong kiến tập quyền ấy, làm được chức năng đối nội và đối ngoại. Ông còn sử dụng kết hợp hệ thống pháp luật lồng ghép vào nội dung của các hương ước xã, thôn nhằm uốn nắn nó theo định hướng tinh thần đức trị của Nho giáo. Ông còn sử dụng thiết chế giáo dục khoa cử một cách hoàn bị để đào tạo ra đội ngũ quan lại lực lượng tham dự vào bộ máy của triều đình bảo đảm cho đường lô’i cai trị Đức trị kết hợp với Pháp trị được hoạt động thông suốt từ trung ương đến địa phương. Điểm cần nhân mạnh là đến Lê Thánh Tông, vai trò của pháp luật rất được đề cao để tổ chức và quản lý xã hội. Lê Thánh Tông rất chú ý đến chức năng điều chinh hoạt động quan,hệ xã hội, kiềm chê’ kiểm soát các hoạt động xã hội, hướng chúng theo tinh thần đức trị của Nho giáo. Ngay từ khi lên ngôi/ ông đã râ’t chú trọng ban hành những sắc chỉ đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Nội dung pháp luật được chỉ đạo nhằm bảo vệ tinh thần của lễ giáo phong kiến, ông nói:

“Người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ làm khuôn phép giữ gìn”.

Tổng kết lại tư tưởng Đức trị kết hợp với Pháp trị của Lê Thánh Tông thể hiện tập trung nhiều trong bộ ba: Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, Quốc triều thư khế thể thức, và nhất là Bộ luật Quôc triều hình luật. Suốt cuộc đời ông, ông đã ban hành 83 sắc chỉ về hành chính, 10 sắc chỉ về tư pháp, 11 sắc chỉ về chống tham nhũng, hối lộ và nhiều sắc chỉ về quy định thực hành đạo đức, lễ nghi theo quy chuẩn của Nho giáo. Sách Đại Việt sử ký toàn thư tập II ghi nhận ông nhiều lần khuyến dụ thực thi pháp luật, chỉ dụ:

“Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, phàm những việc dạy dân nên phong tục tốt, những việc dấy lợi trừ hại, không cái gì là không nói ra trong lời ẩn dụ, để các ngươi theo thế mà làm. Thế mà của dân vẫn chưa dồi dào, tục dân vẫn chưa được đối tốt, …từ nay về sau bọn các ngươi phải bỏ hết tệ trước, phàm sắc lệnh của triều đình phải một lòng vâng làm, nhân dần bị đói rách phải tìm cách kinh lý”.

Đề cao vai trò của pháp luật là nhận thức tất yếu khi ông tìm hiểu về các bài học của tiền nhân và tổng kết từ thực tiễn của thời đại ông sống. Từ những tiền đề khách quan và chủ quan đặc biệt trên đây, bộ Quốc triều hình luật ra đời là kết quả tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đất nước mà,cũng chính là một trình độ mới trong tư duy pháp luật của Lê Thánh Tông. Ông không chỉ thấy vai trò quan trọng của pháp luật mà còn thấy sự cấp bách phải đưa pháp luật vào cuộc sống một cách hệ thống. Ban hành đồng bộ các văn bản luật pháp và ráo riết kiểm tra việc thực thi chúng. Ban hành dụ Hiệu định quan chế ông nói:

“Từ nay con cháu ta nên biết thể chế này ban hành là do bất đắc dĩ. Một khi pháp độ đã định nên kính giữ noi theo. Chớ có cậy thông minh bàn xằng triều trước mà sửa đổi làm cho pháp điển nghiêng ngửa để tự hãm hại vào điều bất hiếu. Kẻ làm bầy tôi giúp rập cũng nên kính giữ phép thường, cố giúp mãi vua ngươi, khiến noi công trước, để tránh khỏi tội lỗi. Bằng dám có dẫn xằng phép nước, luận càn đến một quan, đổi một chức, chính thị là bầy tôi phản nghịch, làm rối loạn phép nước thì giết bỏ giữa chợ không thương, gia thuộc đều bị đày ra nơi biên viễn để làm rõ cái tội làm tôi không trung, ngõ hầu muôn đời sau đều biết đêh cái ý sáng chí lập pháp còn ngự ở đây vậy”.

Nhận thức được vai trò của lập pháp tường minh hiệu dụng, suốt đời Lê Thánh Tông chăm lo đưa pháp luật đến với muôn dân, trực tiếp giám sát các quan lại thực thi pháp luật trong đời sống. Ông là tấm gương sáng của việc tận tâm đưa pháp luật vào đời sống xã hội thực thi pháp luật một cách công tâm. Ông trực tiếp xử gần 30 vụ các quan phạm luật, tham nhũng, hối lộ, phát hiện 3 vụ các quan khai man để tập âm, 3 vụ quan tiến cử người không đủ phẩm cách. 2 vụ quan bao che người nhà, ông chủ trương phạt nặng các quan để răn đe, khuyến khích, thưởng hậu các quan để phát huy việc thực thi pháp luật. Riêng trong năm 1467, vua đã xử phạt 323 người trong đó có 15 quan phạm luật, có người là công thần. Ông nhiều lần nhắc nhở thực thi pháp luật. Ngay sau khi mới lên ngôi, ông đã ra huân dụ:

“Trẫm mới lên ngôi báu, nghĩ cách trừ bỏ thói tệ, muốn đặt hình phạt nặng để chính sự buổi đầu được trong sạch. Nhưng lại nghĩ: lấy hình phạt nặng trừng trị kẻ gian là công cụ để giúp việc trị bình. Lấy miệng lưỡi thay cho búa rìu là lòng nhân chế ngự kẻ dưới. Vậy đặc cách ban bố điều khoản mới, yêu cầu trừ bỏ thói quen xưa. Người nào biết thể theo ý trẫm không bất lương thì được hưởng, kẻ nào quen giữ thói cũ không quen răn dạy thì phạt nặng để trừng trị. Hoạ, phúc, không có cửa, nào mọi người hãy chọn cho kỹ”.

Quán xuyến tinh thần Nho giáo, lây đạo đức để cai trị, Lê Thánh Tông rất ý thức về vai trò đầu tàu gương mẫu của người đứng đầu nhà nước, ý thức về ngôi vua thiên tử. Ông cũng nhiều lần nhắc nhở về đạo đức phẩm cách của người cầm quyền, trách nhiệm của triều đình đối với dân chúng đó là phải an dân và giáo dưỡng nhân dân:

“Lễ nghĩa là để sửa tốt lòng dân, nông tang để có đủ cơm áo. Hai điều đó là việc cần kíp của chính sự, là chức trách của quan nuôi dân, giữ dân”.

Lây pháp luật để cai trị đất nước, nhà vua cũng rất ý thức về chủ quyền dân tộc, ý thức về lãnh thổ quốc gia nên ông trực triếp cho tiến hành khảo sát, đo đạc, ghi chép đầy đủ, tỉ mỉ hình sông, thế núi, đường xá, ruộng đất và cho lập bản đồ Hồng Đức để tiện việc quản lý đất nước và mở mang bờ cõi. Ông rất kiên quyết trước vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Ông từng dụ quan Thái Bảo rằng:

“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào nên vứt bỏ? Người phải kiên quyết tranh biện, chớ để cho họ lẫn dần nếu họ không nghe còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lý gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di”.

Nội dung phát triển tư tưởng kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị ở Lê Thánh Tông còn thể hiện ở việc ông chú trọng xây dựng các tiêu chí đạo đức của quan lại, thần dân thành các quy phạm pháp luật có hệ thống chặt chẽ, tập trung rõ nhất là trong bộ Quốc triều hình luật cùng với ba bộ sách đã nêu trên và rất nhiều chiếu chỉ dụ nhằm hướng dẫn chi đạo đề ra các nội dung pháp luật và thực thi pháp luật. Điều đáng nói tư tưởng của ông vẫn thuộc trong phạm trù chê’ độ phong kiến Đông Á nên không tránh khỏi những hạn chế do ảnh hưởng của Nho gia và Pháp gia. Nhất là luật pháp của ông chú trọng các hình thức nghiêm cấm hình phạt nặng các vấn đề dân luật còn chưa chú trọng nhiều. Có thể nói đến Lê Thánh Tông nội dung của tư tưởng cai trị đất nước kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị có một bước nhảy vọt về chất thể hiện rõ ràng ớ ba phương diện:

–  Thứ nhất, ông đã kế thừa và phát triển hoàn vị thể chế Nhà nước phong kiên đã được xây dựng ở các triều trước, đây là lực lượng vật chất để có thể triển khai và thực hành đường lối cai trị của ông.

– Thứ hai, ông đẩy mạnh tiếp biến và dân tộc hoá sâu đậm hơn các nội dung đức trị của Nho giáo và pháp trị của Pháp gia. Tổng hợp lại trên cơ sở thực tiễn Việt Nam đề ra phương hướng cai trị phù hợp với yêu cầu của đất nước, xây dựng hệ thông pháp luật tương thích với hiện thực và xu hướng vận động của dân tộc. Nói cách khác, ông đã đẩy tư duy chính trị và pháp luật của Việt Nam lên một tẩm cao mới mang tính điển hình của thời kỳ phong kiến Việt Nam.

–  Thứ ba, ông đã kết hợp giữa pháp luật với phong tục tập quán, lễ giáo để hình thức hoá các chuẩn mực của triều đình và thần dân làm mực thước khuôn mẫu cho tổ chức và quản lý xã hội một cách toàn diện.

–  Thứ tư, ông xây dựng chế độ khảo khoá để đào tạo đội ngũ quan lại là lực lượng nòng cốt triển khai đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị.

–  Thứ năm, ông đã chú trọng giữa việc xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật và giám sát, kiểm sát việc thực hành pháp luật đó như một chỉnh thể hữu cơ.

Hoàn thiện chế độ khoa cử, ông ban hành “Phép khảo khoá”:

“Phép khảo khoá đã có lệ sẵn, cốt để-phân biệt người ngay, kẻ dở tỏ rõ việc khuyên răn. Nay Lại bộ và các quan nha môn trong ngoài nên theo đúng lệ mà làm đểkhuyêh khích mọi người. Nêu nhu nhược bỏ phép nước như trước kia thì khoa phụ trách kiểm xét nêu lên, theo luật là trị tội”.

–  Thứ sáu, Lê Thánh Tông trong thời gian trị vì đã nhìn thây được nguy cơ tha hoá, lạm quyền của đội ngũ quan lại nên đã bỏ nhiều công sức để xây dựng các tiêu chuẩn quan lại và kiểm soát sâu sát phẩm chất tư cách của họ. Vua ra sắc lệnh chỉ cho các hình quan phải thường xuyên báo cáo về các việc xét xử:

“Từ nay việc kiện tụng phải mỗi tháng ba lần trình lên để quyết định, coi đó là định chế lâu dài.

Năm 1465, vua lệnh phải xếp sắp lại các quan ở Viện Ngũ hình:

“Loại một, là những người xét xử không có án oan sai, được thưởng, cất nhắc. Loại hai, là những người xét xử bình thường được giữ nguyên phẩm trật. Loại ba, người nào “hèn kém” không làm hết trách nhiệm cho chuyển sang làm “chuyên vận”.

Ông đã chỉ dụ cho việc bổ nhiệm chức hình quan: “Triều thần phải công bằng mà lựa chọn hoặc sa thải hình quan và quan thừa hiến phủ huyện các sứ để đều được người giỏi xét xử đúng lẽ, phải tâu lên để thi hành”.

Như vậy, khắc phục các điểm hạn chế của học thuyết Nho giáo và Pháp gia trong thời kỳ trước đó ông đã làm được một bước nhảy vọt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam khi đề ra và thực thi có hiệu quả đường lối cai trị kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị, với phương châm “Đức là chủ, Pháp là bổ”, đề cao các nguyên tắc pháp luật tôn quân, nhân chính, ái dân, pháp chế phải nghiêm minh, pháp luật được tôn trọng với sự nêu gương của người cầm quyền. Tư tưởng đó có vai trò vô cùng quan trọng tỏ rõ giá trị lịch sử của nó trong việc thúc đẩy xã hội phong kiến Việt Nam chuyển biên theo xu hướng sống và làm việc theo pháp luật, xã hội trọng pháp luật, coi pháp luật là công cụ hiệu quả để điều chỉnh nhận thức và hành vi. Nó có tác dụng duy trì ổn định xã hội và bảo vệ vương quyển. Thể chế nhà nước hoàn bị hơn trước đường lối đó còn có hiệu quả hạn chế sự lạm dụng quyền lực, hạn chế tha hoá, tham nhũng/ hối lộ, lộng quyền của công thần trong giai đoạn Lê sơ, khi nhà vua còn là bậc minh quân. Đường lối đó bảo đảm tập trung quyền lực vào đấng minh quân, bảo đảm tính thông nhất, đồng bộ của cả hệ thống từ trung ương đến địa phương.

Nhà vua là hạt nhân quyền lực bảo đảm sự điều hành duy trì quy củ, kiểm soát toàn bộ hệ thống. Nhờ có đường lối này, đội ngũ quan lại được giáo dục và tuyển dụng bằng chế độ khảo thí, mở rộng cơ hội cho các nhân tài không phải quý tộc xuất thân. Đặc biệt ba tập pháp điển và bộ luật Hồng Đức đã hoàn thiện chế độ pháp luật thời Lê sơ rất điển hình, tiêu biểu cho thời kỳ phong kiến. Nó vẫn còn có ý nghĩa nhất định đối với ngày nay nếu biết gạn đục khơi trong, rút ra các bài học. Trong lịch sử tư tưởng phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, dù chủ trương là cai trị bằng đức hay bằng pháp trị thì ít nhiều những người cẩm quyền đểu cần phải có sự kết hợp cả pháp trị lẫn đức trị, chỉ có tuỳ từng điều kiện mà một trong các yếu tố đó được coi là cốt yếu, cơ bản. Ở nước ta hiện nay, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, việc khắc phục mặt hạn chế của lối cai trị đức trị kết hợp với pháp trị phong kiên cũ như, đề cao tuyệt đối quân quyền, tôn quân, đề cao pháp luật, đạo đức thái quá bỏ quên con người, tập tục, bảo vệ chế độ đẳng cấp tôn ty phong kiên, hạn chế dân chủ, hạ thấp nữ quyền… là rất nặng nề cần tiếp tục phê phán, song lại rất cần thiết nếu biết kế thừa các giá trị của tư tưởng đó như là: chú trọng sự kết hợp giữa nội dung Đức trị với Pháp trị. Xã hội ta ngày nay đang đổi mới đạt được những bước tiến nổi bật về kinh tế, đời sống được nâng cao nhưng trong thực tế đời sống kỷ cương, còn bị buông lỏng, pháp luật vừa thiêu, vừa chưa được thực hiện nghiêm minh. Điều này không chỉ do nhận thức của nhân dân về pháp luật chưa cao, dân Việt Nam còn chưa quen với lối sống và làm việc theo pháp luật, mà như trong nội dung tự đánh giá phê bình của các cấp lãnh đạo vừa qua là còn “do sự suy thoái, tha hoá đạo đức xã hội, sự mờ nhạt lý tưởng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…”. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thực thi có hiệu quả pháp luật, vẫn cần chú trọng việc giáo dục đạo đức cho đông đảo các tầng lớp xã hội thấm sâu các giá trị lối sông có đạo lý, có tình người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với Việt Nam vẫn Tất cần có sự kết hợp giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với quản lý xã hội bằng các bài học kinh nghiệm “đức trị” của truyền thông. Những nội dung của đường lối cai trị bằng đức trị vói pháp trị trong tư tưởng của Lê Thánh Tông còn chứa đựng những gợi ý quý báu mà chúng ta cần biết học tập để kế thừa phát huy các giá trị tích cực trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay. Việc cần làm ngay là tiếp tục nghiên cứu cơ bản để có sự đánh giá khoa học các di sản truyền thống về đạo đức và pháp luật làm căn cứ cơ sở để xây dựng các chuẩn mực đạo đức và pháp luật mói nhằm bảo đảm có kế thừa khoa học các giá trị đạo đức và pháp luật truyền thông, đổng thời bảo đảm có sự thích ứng phù hợp với yêu cầu phát triển đổi mới, hiện đại hoá đất nước.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần có sự hoàn thiện hệ thống quản lý bằng Nhà nước pháp quyền XHCN kết hợp với tăng cường giáo dục đạo đức cho mọi công dân là một yêu cầu cấp bách.