1. Dàn ý thuyết minh về cây lúa:
1.1 Mở bài:
Giới thiệu vài nét về cây lúa Việt Nam (Từ bao đời nay, cây lúa đã gắn bó và là một phần không thể thiếu của con người Việt Nam. Cây lúa không chỉ mang lại đời sống no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, đồng thời cũng trở thành tên gọi của một nền văn minh – nền văn minh lúa nước)
1.2 Thân bài:
Giới thiệu chung về lịch sử, nguồn gốc cây lúa: Từ thời Hùng Vương cây lúa xuất hiện. Gắn bó với Lang Liêu sử dụng gạo nếp để làm bánh chưng, bánh giầy dâng lên vua cha. Rất lâu rồi, lúa đã là một loại cây lương thực cổ có vị trí quan trọng trong đời sống và lịch sử phát triển của hàng triệu, triệu người từ xa xưa đến nay. Đi khắp đất nước Việt Nam, từ Bắc vào Nam, từ miền ngược đến miền xuôi,… đâu đâu cũng có thể bắt gặp hình ảnh lúa trải rộng trên các cánh đồng thẳng cánh cò bay. Cây lúa là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc và là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói chung, Châu Á nói riêng.
Đặc điểm của cây lúa: Cây lúa có nguồn gốc vùng nhiệt đới Đông Nam Á và Châu Phi, chúng sống ở dưới nước, thuộc loại cây một lá mầm và là loài cây tự thụ phấn. Cấu tạo của cây lúa gồm 3 bộ phận
- Rễ: thuộc loại rễ chùm. Những rễ non có màu trắng sữa, rễ trưởng thành có màu vàng nâu và nâu đậm, rễ đã già có màu đen.
- Thân cây lúa: bao gồm bẹ lúa (là phần đáy lá kéo dài cuộn thành hình trụ và bao phần non của thân), phiến lá (hẹp, phẳng và dài hơn bẹ lá), lá hình lưỡi liềm). Thân cây có chức năng chống đỡ cơ học cho toàn cây, lá làm nhiệm vụ quang hợp.
- Ngọn là nơi bông lúa ra hoa, tự thụ phấn và sinh trưởng sau đó trở thành hạt lúa. Lúa chín có màu vàng và người nông dân gặt về làm thực phẩm (gạo)
- Hướng dẫn trồng cây lúa:
- Gieo giống: hạt giống sau khi được ngâm vào nước và nảy mầm thì sẽ mang hạt đã nảy mầm đi gieo. Hạt đã nảy mầm được đem gieo vào các ruộng trên đất cho lớn thành mạ. Khi mạ đủ thời gian quy định thì được nhổ lên và đem cấy vào ruộng đã được cày bừa kỹ (Cũng có nơi không gieo hạt phát triển thành mạ mà trực tiếp gieo để hạt mầm phát triển thành cây lúa.)
- Cấy lúa: khi cây lúa cao khoảng 10cm - 20cm sẽ bắt đầu cấy lúa để giúp cây lúa mọc đều.
- Chăm sóc lúa: thời gian này phải chăm lúa và lấy nước. Quan sát tình hình cây lúa phát triển và phát hiện sâu bệnh ngăn chặn kịp thời.
- Thu hoạch: Lúa bắt đầu ngả sang màu vàng lúc đó có thể thu hoạch, hiện nay việc thu hoạch đã nhanh hơn nhờ có khoa học công nghệ áp dụng.
- Sau khi thu hoạch, ruộng sẽ được cây búa để chuẩn bị cho mùa sau.
Lợi ích và vai trò của cây lúa: Là cây lương thực chính nuôi sống con người và có giá trị kinh tế cao (Gạo để xuất khẩu, Việt Nam hiện tại đang xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới). Lúa còn chế biến ra nhiều sản phẩm như: Bánh đúc, bánh phở, cốm, rượu,… Sản phẩm phụ từ lúa được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau như: làm đẹp (cám gạo), thức ăn gia súc, sản xuất giấy, đồ thủ công mỹ nghệ, chất đốt,… Cây lúa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam: đi vào nhiều câu ca dao tục ngữ, nhiều câu chuyện dân gian, nhiều bài thơ bài hát. Nó cũng là loại cây tiêu biểu của Việt Nam, gắn với nhiều phong tục, tập quán của người dân.
1.3 Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị của cây lúa trong đời sống con người.
- Nêu cảm nghĩ và liên hệ.
>> Tham khảo: Ca dao, tục ngữ về cây lúa, hạt gạo hay và ý nghĩa nhất
2. Mẫu thuyết minh về cây lúa chọn lọc hay nhất
2.1 Bài thuyết minh về cây lúa (Mẫu số 1):
Mỗi một đất nước, một dân tộc, một mảnh đất có những loại cây riêng với quê hương mình. Và ở nước ta cây lúa mộc mạc, bình dị đã trở thành cây nông nghiệp gần gũi, gắn bó nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Cây lúa ấy đã trở thành nguồn cảm hứng của biết bao nhà văn, nhà thơ khi viết về vẻ đẹp quê hương.
“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.”
Cây lúa thuộc loại cây thân mềm, ưa bóng râm. Cây lúa phát triển theo các giai đoạn khác nhau, phải qua quá trình chăm bón và tưới tiêu tỉ mỉ, cần mẫn của người nông dân mới có được bông lúa màu vàng óng. Cây lúa khi còn ở thời kỳ con gái trông giống như một thiếu nữ yêu kiều thướt tha trong bộ cánh xanh non mơn mởn. Cây lúa dài như những thanh kiếm, thỉnh thoảng có làn gió thổi qua lại như các chiến binh đang vung gươm nghe thật vui tai. Thân lúa mảnh và dài, gồm các lớp vỏ bao dầy bọc vào nhau, như những cánh tay đang ôm để bảo vệ bên trong. Cây lúa khi chín mang trên mình diện mạo mới, không phải là màu xanh mướt, trẻ trung đầy sức sống nữa mà lại là màu vàng óng, ngây ngất thơm mùi sữa non. Cây lúa luôn mang trên mình mùi hương thật đặc biệt, đó là mùi của tình quê, của chất quê gần gũi, thân quen, của những tấm lòng cần cù, chịu khó, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Hạt lúa khi chín được bọc bên ngoài là lớp vỏ màu vàng, bên trong là hạt cơm trắng ngần, chắc mẩy chỉ nhìn thấy là đã mắt. Hạt lúa trắng ngần đó là tinh túy của mồ hôi, công sức những người lao động mang về để dâng lên hương trời. Vậy cho nên hương lúa bao giờ cũng thế, có mùi thơm, vị ngọt, rất riêng. Trước đây, người Việt chỉ có hai vụ lúa: chiêm và mùa. Ngày nay, khoa học phát triển, mỗi năm có nhiều vụ xen kẽ nhau. Trồng lúa phải qua nhiều công đoạn: khi hạt thóc mọc mầm trở thành cây mạ; rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng. Ruộng phải cày, làm bừa, bón phân. Ruộng phải sâm sấp nước. Khi lúa mọc nhánh thành những bông (đang kỳ con gái) lại phải làm cỏ, bón phân, trừ sâu. Khi lúa làm đòng, trổ bông thì hạt lúa đều hạt và chín vàng. Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt rồi sấy khô và xay thành hạt gạo, bao công sức của mình để có hạt gạo nuôi sống con người. Hạt gạo có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế của chúng ta. Hạt gạo cung cấp chất dinh dưỡng thiết yếu và vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người. Ngoài việc nuôi sống con người thì hạt lúa, hạt gạo cũng gắn bó với đời sống tâm linh của người Việt. Có nhiều loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp. .. Gạo nếp dùng làm bánh chưng và giò là hai loại bánh truyền thống của con người Việt Nam mỗi dịp Tết Nguyên Đán. Bánh chưng và giò cũng gắn liền với Lang Liêu thời vua Hùng mở nước. Lúa nếp non được dùng để làm cốm – một thức quà thanh lịch của người Hà Nội. Gạo nếp dùng để làm các loại xôi – một món đồ lễ không thể thiếu trên bàn thờ của người Việt Nam trong ngày Tết Nguyên đán và ngày giỗ tổ tiên. Đồng thời xôi cũng là món ăn phổ biến mỗi ngày. Giống lúa gạo, người Việt có thể làm ra nhiều loại bánh như: bánh đa, bánh đúc, bánh giò, bánh tẻ, bún, phở, cháo. Nếu không có gạo thì quả là khó trong việc sáng tạo ra nền công nghiệp ẩm thực mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Ngày nay, nước ta đã lai tạo ra gần 30 giống lúa và công nhận là giống lúa quốc gia. Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan về xuất khẩu gạo. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành nước nông nghiệp và xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, để có được thành quả ngày hôm nay, người nông dân phải vất vả, lao động cần cù, làm đúng từng bước mới có được một vụ mùa bội thu: từ trồng mạ đến xới mạ, bón phân, tưới, nhổ cỏ vào những ngày đông hoặc mưa bão, khô hạn người dân phải đi lại nhiều lần để bảo vệ và chăm sóc chúng. Trong suốt quá trình cây lúa phát triển, mỗi tuần người nông dân phải ra ngoài đồng ruộng thăm lúa và lấy nước. Việc thăm lúa giúp người nông dân loại bỏ những ổ sâu bệnh trên lúa và bón phân cho lúa phát triển tốt hơn. Đợt đến khi cánh đồng lúa chuyển màu vàng thì người nông dân mới thu hoạch. Trước đây người dân thu hoạch bằng tay khá vất vả và tốn kém nhưng ngày nay nhờ công nghệ phát triển tiến mạnh hơn, người ta thu hoạch bằng máy móc cũng bớt phần cực nhọc cho con người. Từ đời cha ông ta, nhân dân trồng chỉ có hai vụ lúa: chiêm và mùa. Ngày nay, xã hội phát triển, công nghệ trong canh tác được nâng cao hơn, mỗi năm có nhiều vụ kế tiếp nhau. Trồng lúa phải qua nhiều công đoạn: từ hạt thóc nảy mầm đến cây mạ; rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng. Ruộng phải bừa, làm đất và bón phân. Ruộng phải sâm sấp nước. Khi lúa mọc nhánh thành từng khóm, người dân lại phải làm cỏ, bón phân, diệt sâu bệnh. Khi lúa làm đòng, kết hoa thành hạt lúa đều hạt và chín vàng. Người nông dân cắt lúa về tước hạt, phơi khô rồi xay lấy hạt gạo bao công sức của nông dân mới có hạt gạo nuôi sống con người. Những hạt gạo được làm ra không chỉ cho bữa cơm thường nhật của con người mà còn dùng làm chè, đồ xôi, đặc biệt là vào ngày lễ hay Tết, gạo để làm bánh chưng truyền thống và còn làm món quà tặng nhau. Tinh thần những người nông dân đó đã góp phần quan trọng để Việt Nam có vị trí như ngày hôm nay với cây lúa nước hay đất nước ta thường được gọi là Văn Minh Lúa Nước. Cây lúa luôn là những người bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam và là nguồn lương thực dồi dào của nước ta, có vai trò quan trọng đối với phát triển sản xuất, đem đến cuộc sống ấm no cho chúng ta tạo thành nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.
2.2 Bài thuyết minh về cây lúa (Mẫu số 2):
Đồng bao đời qua người nông dân Việt Nam đã gắn chặt với cây lúa. Từ lúc sinh ra cho tới khi qua đời cây lúa lúc nào cũng ở bên cạnh họ. Trước đây có nhiều gia đình sau khi người thân chết đã đem xác của người đó ra ngoài đồng chôn. Đồng ruộng bởi vậy mà chúng ta có thể cảm nhận được cây lúa có ý nghĩa với người dân Việt Nam thế nào. Ở cây lúa có vẻ đẹp thanh tao như bông hoa, duyên dáng như tà áo dài trắng và cũng rất mộc mạc như hồn quê Việt Nam. Đi dọc từ Bắc vào Nam, đâu đâu chúng ta cũng có thể nhìn thấy những cánh đồng lúa. Nếu như ở vùng đồng bằng trồng lúa ở các ruộng bậc thang thì ở vùng núi cao họ trồng lúa trên nương. Càng ngày các nhà khoa học càng nghiên cứu ra được nhiều giống lúa mới. Nếu như trước đây chúng ta chỉ tập trung sản xuất hai vụ mùa là hè thu và mùa đông thì giờ đây cây lúa được gieo trồng quanh năm. Cây lúa có nhiều loại khác nhau nên tùy thuộc vào các vùng miền khác nhau để chọn từng loại giống lúa khác nhau. Tuy nhiên, vùng trồng lúa tốt nhất là ở vùng có nước ngọt. Ở các vùng nước nhiễm mặn, phèn như vùng Tây Nguyên thì cây lúa không sinh trưởng và phát triển được. Còn cây lúa sinh trưởng chủ yếu nhờ nước và chúng là loại cây nhỏ, thân mềm. Chiều cao của cây lúa 60cm - 80cm và chiều rộng là khoảng 2cm - 3cm. Cũng như nhiều loại cây khác, cây lúa được phân ra thành ba bộ phận chính bao gồm rễ cây, vỏ cây và ngọn cây. Rễ cây nằm dưới lớp đất màu mỡ có khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cơ thể. Thân cây là nơi con đường dẫn dinh dưỡng đến ngọn cây. Ngọn cây là nơi bông lúa phát triển và hình thành hạt lúa. Bông cây lúa phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Giai đoạn đầu tiên chúng là những cây mạ rất nhỏ và có màu xanh mướt. Sau một vài tháng được chăm bón tốt những cây lúa trưởng thành sẽ bắt đầu trổ bông. Bông lúa chín có màu vàng, cành lúa cong cong giống như lưỡi liềm. Các giống lúa phổ biến ở nước ta có thể kể đến như lúa nước sâu, lúa nước nông, lúa cạn, lúa nếp và lúa nước. Lúa tẻ được trồng trồng để lấy gạo tẻ, thứ gạo mà chúng ta vẫn sử dụng hàng ngày để nấu cơm. Lúa nếp được trồng để lấy gạo nếp, thứ gạo chúng ta vẫn dùng để làm bánh, đồ xôi,… Bông lúa khi còn non được dùng làm cốm. Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chính nuôi sống bao thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tâm linh của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết hơn bao giờ hết. Điều đó được biểu hiện rất rõ ràng trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói chuyện, cách đọc tên và đặt tên từ cửa miệng của những người sương nắng. Bắt đầu từ lúc thả hạt mộng xuống đồng. chưa ném buổi sáng thì buổi chiều mộng "ngồi" xong, nghĩa là rễ đã chạm được vào mặt đất và mầm cây đã thẳng hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã tồn tại ở trong thế giới mới, đích thực của nó. Qua hôm nữa, mầm mọc lên cao hơn và bắt đầu có màu vàng thì người ta nói là mạ đã "xanh đầu". Mạ cũng có "gan". "Gan mạ nằm ở thân cây nên không bị dập nát. Nhổ khéo, lỡ làm bể "gan" thì mạ sẽ "chết". Cấy xuống thêm vài hôm thì lúa ra rễ mới, gọi là bén đất hoặc "đứng chân". Cũng như chữ "ngồi" ở trên, chữ "đứng chân" là chính xác và khá phổ biến, nhưng chỉ vài hôm trước khi mới gieo, nhiều cây lúa đã nghiêng ngả, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn nằm nổi trên mặt nước rồi. bây giờ đã "đứng chân" rồi, nghĩa là cũng tương tự như người khác, có một tư thế đứng chân vững chãi và đã chắc bám trên đất. Khác với lúc mọc mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách "đẻ nhánh". Nhánh "con" nhánh "cái" thi nhau đẻ trứng và tần vần trở thành cụm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, cả cánh đồng bạt ngàn màu xanh. Dáng cây thon thả, mảnh mai, sắc lá non tơ tràn đầy sức sống gợi điều gì đó trẻ trung, xinh đẹp và quyến rũ. Đó cũng là lúc cây lúa "đang thì con gái", thời kỳ rực rỡ nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà nhìn, cánh đồng mở ra mênh mông, đẹp như trong tranh. Đến thời kỳ hè thu thì lúa chuyển qua giai đoạn "tròn mình", "đứng cái" và "ôm đòng". Đòng lúa to nhanh, nắng mưa thì mỗi ngày mỗi khác. "Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Cứ theo tiếng sấm phất cờ mà lên". Nếu mưa có mươi hôm là lúa trổ được. Nhưng chẳng may gặp mùa khô thì đòng lại không trổ lại được, người ta bảo bị "nghẹn". "Nghẹn" là khổ lắm rồi, là có cái gì nó chất chứa, như uẩn ức trong lòng, ăn cũng sẽ bị "ngã" hoặc bị "nằm" lúc có gió và mưa lớn. Ông bà ta sợ nhất cảnh này là vài tháng chăm sóc cây đã gần đến ngày thu hoạch quả. Nếu không may bị "ngã" xuống thì hạt thóc sẽ lép lại và coi như hỏng quả. Còn lúa "nằm" dưới đất, ủ độ vài ba ngày thì hạt thóc phồng to, cứng rồi mọc lên ngay trên bông. Mầm mọc trắng trông ngon mắt. Xót ruột về chia vui với anh em thì thóc nhà mình "nhe răng cười" ông ạ! Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chân chất. Không phải họ giàu có gì đâu. Mà vì gần gũi quá, thân thuộc quá. Ban ngày vác cuốc ra ngoài đồng để chăm lúa. Ban đêm giấc mơ chỉ thấy được mấy cây lúa. Lúa là ăn no, là những người bạn để sẻ chia nỗi lòng, vui buồn lẫn lộn. Trải qua chiều dài các thời kỳ, đời lúa ngấm vào đời người. Và rồi, đời người cũng chứa chan tình cảm gửi gắm vào đời lúa qua những từ ngữ bình dị, những tên gọi sống động kể trên. Lúa dù nhỏ nhưng có khá nhiều công dụng. Hạt gạo được xem là nguồn thu nhập chủ yếu của người nông dân và một thứ không thể thiếu trong bữa ăn các gia đình Việt, từ đơn giản đến sang trọng. Thân lúa ngày xưa hay được phơi thật khô dùng lợp nhà, bện cây chổi và làm chất đốt. Rơm cũng là thức ăn chủ yếu của trâu, bò trong những ngày đông giá lạnh. Người ta thậm chí còn dùng thân cây để bón đất và trồng nấm. Hạt gạo qua chế biến cũng trở thành những món ăn ngon bổ dưỡng. Hạt gạo xay trở thành nguyên liệu để làm nên các món ăn thơm ngon, bổ dưỡng như bánh trôi, bánh tét, bánh giò. Bột gạo cũng làm nên bánh bao, mì gạo. Nếp còn làm nên thứ bánh ngọt thơm mang hương vị đặc trưng của Hà Nội xưa cũ. Bên cạnh đó, việc đưa gạo ra thị trường thế giới giúp làm gia tăng lợi nhuận của nền kinh tế quốc dân. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu và xếp thứ 2 trên toàn thế giới, chỉ sau Thái Lan. Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm trúc. bởi thấm đẫm tình người và hồn đất, càng mưa nắng, gió bão, càng nồng nàn gắn kết thân thương. Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước – nền công nghiệp lúa nước ngàn đời văn hiến nên cây lúa gắn bó, gần gũi với người Việt và hồn Việt là lẽ đương nhiên. Người dân ta vẫn thường nói với nhau rằng: “Hạt lúa là hạt vàng”. Cây lúa không chỉ là nguồn lương thực nuôi sống con người mỗi ngày mà còn in dấu vẻ đẹp bình dị của hồn quê, vẻ đẹp tảo tần của con người, góp phần làm giàu đẹp cho quê hương Việt Nam yêu dấu.
2.3 Bài thuyết minh về cây lúa (Mẫu số 3):
Việt Nam được thế giới biết đến là một đất nước với một nền nông nghiệp lâu đời và phát triển từ rất xa xưa. Do vậy, từ xa xưa cây lúa đã xuất hiện và trở thành lương thực chủ yếu trong cuộc sống của người Việt. Cây lúa có mặt ở Việt Nam và trên thế giới từ lúc nào vẫn đang là một câu hỏi lớn. Không ai biết được chính xác, rõ ràng thời gian và không gian. Có lẽ chúng xuất hiện cùng với những ngày đầu con người biết về nông nghiệp. Lúa là một trong các cây lương thực quan trọng của Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung. Trên chuyến hành trình trải dài từ miền Bắc vào đến phía Nam, không có nơi nào là thiếu hình ảnh những cánh đồng lúa bao la trải dài bất tận. Có rất nhiều những chủng loại giống lúa khác nhau thích hợp với điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng của từng vùng miền như: nếp cái hoa vàng, cao cây, gạo tẻ, gạo nhật,..... Dù khác nhau về chủng loại song chúng lại có chung đặc tính. Lúa thuộc họ cây thân mềm, cứng và dài. Thân lúa hay mọc thẳng đứng. Lá lúa dài như lưỡi dao, mép lá nhẵn. Khi còn non thì mang màu xanh mướt, lúc chín, lá lúa khoác trên người bộ áo vàng óng, hương thơm thoang thoảng của mùi lúa chín tạo thành một nét đẹp đồng quê bình dị đến lạ lùng và mang đậm bản sắc dân tộc. Bông lúa nằm phía ngọn cây, kết thành từng cụm, sau thu hoạch tạo nên hạt lúa. Hạt lúa được người nông dân thu hoạch và thành hạt thóc. Cây lúa là loại cây chủ yếu sống dưới đất. Nếu thiếu nước cây lúa không phát triển bình thường được. Quá trình phát triển của lúa chia làm 3 thời kỳ. Khi mới trồng, cây lúa chỉ là những cây mạ non. Người nông dân tiến hành nhổ mạ trên những ruộng bậc thang. Những ngày đầu cây lúa phát triển có phần chậm lại do cơ thể chưa quen với môi trường mới. Thân cây lúc đầu mảnh mai và yếu ớt chỉ dài khoảng 20cm, với 4 đến 5 chiếc lá nhỏ xanh non. Khoảng thời gian sau đó, chừng một tháng thì lúa đã trưởng thành và được người dân ưu ái gọi với cái tên lúa đang trong thời con gái bởi đây là giai đoạn mà cây lúa phát triển nhất: Đẻ nhánh và làm đòng. Chiều cao của chúng giờ đã khoảng 50cm - 60cm với những lá xanh đậm sắc ôm chặt lấy thân. Bên trong là những lá non trắng tinh khiết. Cuối cùng là thời kỳ lúa trổ bông rồi làm đòng. Đây là giai đoạn cây lúa phát triển cao nhất, khoảng 80cm - 100cm, thân cây vững chắc. Mỗi cây lúa cho một bông, chừng 200 hạt, mỗi hạt là một bông hoa. Thời kỳ trổ bông, lúa giữ gìn từng cánh hoa, để chúng nhờ gió thụ phấn cho nhau. Khoảng một tuần sau khi lúa làm xong sẽ chín đều. Từng bông lúa trắng ngần và vàng óng dưới ánh sáng mặt trời khiến cánh đồng trở nên đẹp long lanh như phủ lớp ánh vàng. Lúc này, lúa đã sẵn sàng đợi con người đến thu hoạch đem bán. Để làm được những hạt gạo trắng, dẻo thơm, người nông dân đã phải tần tảo một nắng, hai sương, không ngại khó khăn, vất vả ở mỗi một công đoạn: Từ khi chọn giống lúa sao cho đạt năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh, chuẩn bị đất: Dọn cỏ, xới bùn cho đến gieo mạ, bón phân, theo dõi và điều tiết nguồn nước tưới phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lúa, phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh hại. Khi lúa trổ bông và đến ngày thu hoạch, người dân đã tất bật ra ngoài đồng gặt lúa về tách hạt rồi sấy khô, sàng gạo. Chừng ấy công đoạn, chừng ấy nỗi khó khăn, nhọc nhằn, kể làm sao cho hết. Ở Việt Nam có hai vụ lúa là vụ chiêm và vụ mùa. Nhưng sau khi cải tiến và lai tạo thì hiện nay ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có tới 3 vụ mùa một năm. Vụ chiêm thu hoạch vào tháng năm, tháng sáu và vụ mùa vào tháng tám hoặc tháng chín âm lịch. Lúa chia làm nhiều giai đoạn phát triển và từng giai đoạn sẽ có những đặc điểm riêng biệt. Sau khi ngâm thóc để hạt thóc nảy mầm, người nông dân với đôi bàn tay khéo léo sẽ lấy từng nắm hạt giống lúa rải đều trên cánh đồng đã được bừa rất kỹ và láng thật phẳng. Chỉ một vài ngày sau hạt thóc sẽ nhú nên những mầm mạ xanh mướt, biếc rờn và được trồng theo các luống thẳng tắp. Đất là một trong các yếu tố quyết định đến sự phát triển của cây lúa. Bởi lúa chỉ có thể phát triển tốt được ở vùng đất phù sa, với nhiệt độ thích hợp cho cây lúa là từ 20-30 độ C. Trong khoảng nhiệt độ đó lúa sẽ lớn nhanh, hạt lúa sẽ to và mẩy. Lúa càng lớn càng phải chăm bón kỹ vì thời gian này lúa sẽ nhanh bị bệnh hoặc thiếu nước. Người nông dân chăm cây lúa như chăm con, từ cắt cỏ, tưới nước, bón phân đến diệt trừ sâu bệnh, trừ rầy từ khi cây lúa còn ở thời con gái cho đến tận khi cây đã làm đòng và chín vàng. Lúa chín sẽ chuyển sang màu vàng và tỏa mùi hương thơm ngào ngạt. Hạt lúa vàng ươm trĩu nặng kéo cây lúa sà xuống đất như mái tóc óng ả của người con gái đang độ xuân thì. Khi đó cũng là lúc người nông dân gặt lúa. Dưới ánh nắng hè gay gắt, từng bóng nón trắng nhấp nhô trên cánh đồng lúa chín vàng. Lúa được thu hoạch xong xếp vào những bao lớn và tách hạt, phơi hai ba nắng to cho hạt lúa mềm, giữ được lâu hơn rồi say rồi giã, rồi vò, rồi xát, qua nhiều công đoạn mới có được một hạt gạo trắng ngần, thơm phức. Có lẽ cũng vì sự vất vả, nhọc nhằn đó nên ca dao xưa đã có những câu:
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Hạt gạo trắng, những nồi cơm dẻo thơm nghi ngút khói trong mâm cơm của mỗi nhà được làm nên từ cái nắng gay gắt của vùng nhiệt đới và những giọt mồ hôi nhọc nhằn của người lao động suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Cũng vì thế mà người Việt yêu cây gạo, luôn quý trọng và biết ơn những con người đã góp phần làm nên nó. Cây lúa được trồng ở hầu khắp mọi vùng trên cả nước. Mặc dù không phải đất ở vùng nào cũng thích hợp trồng lúa nước nhưng với sự thông minh, cần cù và khéo léo, người Việt không chỉ trồng được lúa trên các vùng đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ mà ngay cả trên những vùng núi cao hiểm trở, thiếu dinh dưỡng họ cũng có thể tạo nên những cánh đồng lúa chín vàng như những bậc thang dẫn từ mặt đất lên tới trời xanh. Lúa là loại lương thực chủ yếu của người Việt nói riêng, người Châu Á nói chung và cũng là loại lương thực phổ biến nhất trong năm loại ngũ cốc. Gạo cung cấp cho con người các chất dinh dưỡng thiết yếu giúp duy trì sự sống còn của con người. Trong mâm cơm của mỗi gia đình Việt, thứ không thể thiếu chính là những hạt cơm gạo trắng, mềm dẻo, thơm lừng và ngọt lịm. Bánh chưng – món ăn cổ truyền của dân tộc trên bàn thờ gia tiên mỗi ngày Tết, là kết tinh của hạt gạo nếp, của thịt mỡ, của tiêu, của hành và được gói trong lá dong xanh mướt đã trở thành tinh hoa trong ẩm thực Việt. Còn có rất nhiều những món ăn khác được làm từ bột gạo: từ món cốm thơm từ lá nếp non cho đến các món xôi ngon lành, đẹp mắt từ đồ nếp tất cả đã trở thành thức quà không thể thiếu trong tâm hồn người Việt. Cây lúa còn có vai trò quan trọng trong tâm thức của người Việt. Với nền văn minh lúa nước có lịch sử 4000 năm, những lễ hội thể hiện sự biết ơn với cây lúa như lễ mừng lúa sinh trưởng của người Mạ, lễ hội “Ăn trâu cúng thần được một ngàn gùi lúa” của người Mạ,… khiến cho ta thấy sự ảnh hưởng, trân trọng và biết ơn của con người đối với cây lúa. Cây lúa cũng đi vào trong thơ ca, hội họa của con người như một lẽ tự nhiên và nó trở thành thi liệu để người nghệ sĩ vẽ lên hình ảnh về đất và người Việt. Ngày nay, lúa gạo trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta và nước ta đã trở thành nước có lượng gạo xuất khẩu lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Thái Lan. Điều đó cũng có nghĩa cây lúa không chỉ là những người bạn mà trở thành nguồn thu chính nuôi sống bao đời người Việt từ ngàn xưa cho đến tận hôm nay. Cây lúa nước mang vẻ đẹp chân chất, mộc mạc trong cái hồn của người Việt và đã gắn với con người Việt từ ngàn đời qua. Và dù cho cuộc sống có hiện đại, văn minh thì cây lúa cũng sẽ giữ một vị trí quan trọng suốt cả đời về thể chất và tinh thần của người Việt Nam.
>> Tham khảo thêm: Thuyết minh về cây bút bi ngắn gọn, chọn lọc hay nhất