1. Khái quát về ca dao, tục ngữ và cây lúa, hạt gạo:

Cây lúa là cây đã có từ thời cổ xưa và là loại cây được người nông dân trồng trọt chủ yếu nhằm tạo nên gạo ăn hay chăn nuôi. Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của con người, cùng với ngô, lúa mì, đậu và đỗ. Theo quan niệm cổ xưa lúa cũng là một trong sáu loại lương thực chủ yếu trong lục cốc. Lúa là loài cây của một nhóm các loài cỏ đã thuần hoá. Lúa sống một năm, có thể cao từ 1-1,8 m hoặc đôi khi cao hơn nữa, với những lá mỏng, hẹp (khoảng 2-2,5 cm) và dài 50 – 100 cm. Rễ chùm, có thể dài từ 2 – 3 m/cây trong thời kỳ ra hoa. Tùy giai đoạn sinh trưởng và phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. Khi lúa chín chuyển thành màu vàng. Các hoa nhỏ có màu trắng sữa, khi thụ phấn mọc thành những chùm hoa phân nhánh cong hoặc rủ xuống, dài 35 – 50 cm. Hạt là loại quả gạo (hạt nhỏ, lép của một số loại cây ngũ cốc) dài 5 – 12 mm và dày 1 – 2 mm. Cây lúa non còn gọi là mạ. Sau khi ngâm ủ xong người nông dân có thể gieo thẳng những hạt lúa đã mọc mầm vào ruộng lúa đã được cày, xới kỹ hoặc thực hiện công đoạn gieo mạ trên ruộng riêng cho cây lúa con có sức phát triển mạnh và sau một khoảng thời gian lại nhổ mạ ra trồng trong ruộng lúa mới. Sản phẩm thu được từ cây lúa là hạt lúa, hay còn gọi là gạo. Sau khi xát bỏ lớp vỏ sẽ thu được sản phẩm chính là thóc cùng với phụ phẩm là cám và trấu. Cây lúa bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ, họ thường đi săn bắn, hái tìm những cây trái về ăn, sau đó họ thấy cây lúa ăn rất tốt nên họ tiếp tục mang đi gieo ở các vùng đất khác để nhân giống thêm và dần có cái ăn, qua một thời gian dài người Việt Nam đã có nhận thức và kinh nghiệm trồng cây lúa, khi gieo ở những nơi có nhiều nước thì người dân thấy cây lúa khá lên và đã tồn tại từ đó đến nay. Tạo nên một biểu tượng của đất nước Việt Nam.

Ca dao, tục ngữ, dân ca là văn hóa dân gian Việt Nam. Từ ngàn xưa người Việt Nam dùng ca dao, dân ca và tục ngữ để diễn tả những nhận xét và kinh nghiệm về cuộc sống của mình. Ca dao, tục ngữ, dân ca phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống và phản ánh đời sống tình cảm nhân dân. Chúng được truyền miệng dưới dạng những câu hát câu hò, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc. Do đó, có rất nhiều ca dao, tục ngữ, và dân ca nói về lúa gạo, các sản phẩm từ lúa gạo, giá trị của lúa gạo, công việc sản xuất và chế biến lúa gạo. Những trang sau đây ghi lại kết quả của công việc tìm kiếm về ca dao, tục ngữ, và dân ca liên hệ với lúa gạo và công việc sản xuất và biến chế lúa gạo của người Việt Nam.

 

2. Ca dao, tục ngữ về cây lúa, hạt gạo hay và ý nghĩa nhất:

Em xinh là xinh như cây lúa

Đố ai biết lúa mấy cây

Biết sông mấy khúc biết mây mấy từng

Ở một số địa phương, như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, và Quảng Trị, dân chúng gọi lúa là ló.

Căn ló không bằng xó nhà

Cơm ló lốc, trốc cá rô (Nghệ An)

Chen chúc giữa đất Yên Hồ,

Cơm khoai thì ít, ló ngô thì nhiều (Hà Tĩnh)

Dại như chó có ló cũng khôn (Quảng Trị)

Người Mường gọi lúa là hông còm:

Trăm thứ hoa không bằng hoa con gái

Trăm thứ trái không bằng trái hông còm (Người Mường).

 

Tháng Giêng là tháng ăn chơi,

Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.

Tháng Ba thì đậu đã già,

Ta đi ta hái về nhà phơi khô.

Tháng Tư đi tậu trâu bò,

Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm.

Sáng ngày đêm lúa ra ngâm,

Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.

Gánh đi ta ném ruộng ta,

Đến khi lên mạ thì ta nhổ về.

Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê,

Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi.

Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,

Nước ruộng vơi mười còn độ một, hai.

Ruộng thấp đóng một gầu giai,

Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng.

Chờ cho lúa có đòng đòng,

Bây giờ ta sẽ trả công cho người.

Bao giờ cho đến tháng Mười,

Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.

Gặt hái ta đem về nhà,

Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.

 

“Thấy nếp thì lại thèm xôi,

Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm.

Hai tay xới xới đơm đơm,

Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.

Gạo tẻ nếu nấu với nhiều nước cho nhừ thì gọi là “cháo”.

Chồng như giỏ, vợ như hom,

Đá vàng chung dạ, cháo cơm chung lòng.

Cơm sôi to lửa thì ngon,

Cháo sôi to lửa thì còn nồi không".

 

“Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, thấy mênh mông bát ngát,

Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, thấy bát ngát mênh mông,

Thân em như chẽn lúa đòng đòng,

Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”

 

Người sống về gạo, cá bạo về nước

Lấy bát mồ hôi đổi bát cơm

Bớt bát cơm mặt còn hơn nợ nần

Ăn cơm hom, nằm giường hòm

Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi

Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày

Cơm kể ngày cày kể buổi

Cơm tẻ no, xôi vò chẳng thiết

Có xôi nói xôi dẻo, có thịt nói thịt bùi

Ăn mày đòi xôi gấc

Muốn ăn xôi ông ơi xắn áo

Ăn cơm sao đặng mà mời

Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm

Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng

Hơi đâu mà giận người dưng thêm gầy

Bao giờ cho đến tháng năm

Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn

Bao giờ cho đến tháng mười

Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn.

 

Thằng Bờm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Bờm rằng

Bờm chẳng lấy trâu

Phú ông xin đổi một xâu cá mè

Bờm rằng

Bờm chẳng lấy mè

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim

Bờm rằng

Bờm chẳng lấy lim

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi

Bờm rằng

Bờm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi nắm xôi

Bờm cười!

 

Người ta đi cấy lấy công,

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.

Trông cho chân cứng đá mềm,

Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.

Chăm bề cày cấy cho xong,

Rồi lên sửa việc cung công thể nào.

Thi rằng: Trú nhĩ vu mao,

Lại câu: Tiêu nhĩ sách đào tương liên.

Kíp sửa nhà cửa được yên,

Mới ra vãi lúa ăn về mùa sau.

 

Ruộng anh cấy thóc dâu thóc tám

Trong năm nay vô hạn được mùa

Gặt xong sớm rồi đưa vào bịch

Hạt thóc khô chẳng khác gì vàng.

 

Thân em vất vả trăm bề,

Sớm đi ruộng lúa, tối về ruộng dâu.

Có lược chẳng kịp chải đầu,

Có cau chẳng kịp têm trầu mà ăn.

 

Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn!

 

Công danh theo đuổi mà chi,

Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông.

Sớm khuya có vợ có chồng,

Cày sâu bừa kỹ mà mong được mùa.

 

Ai ơi! Nhớ lấy lời này:

Tằm nuôi ba lứa, ruộng cày ba năm.

Nhờ trời hòa cốc phong đăng,

Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi.

Được thua dù có tại trời,

Chớ thấy sóng cả mà rời tay co.

 

“Bao giờ cho đến tháng Mười

Lúa trỗ bời bời nhà đủ người no.”

“Bao giờ cho đến tháng Mười

Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn.

Bao giờ cho đến tháng Năm

Thổi nồi cơm nếp vừa ăn vừa nằm.”

 

Bảo nhau gặt lúa vội vàng,

Mang về nhặt tuốt, luận bàn thóc dôi.

Người thì nhóm bếp bắc nồi,

Người đem đãi thóc để rồi đi rang.

Người đứng cối kẻ giần sàng,

Nghe canh gà gáy phàn nàn chưa xong.

Trong làng già trẻ thong dong,

Sớm khuya bện chổi chớ hòng rỗi tay.

=> Nhận xét: Qua các câu ca dao trên ta nhận thấy nghề làm ruộng là một công việc vất vả hầu như quanh năm. Phan Kế Bính nhận xét: "Nhà làm ruộng thật là cần khổ. Thoạt tiên cày vỡ, bừa đất, lại đến nhổ mạ cấy lúa. Cày hôm cuốc đêm, vất vả quanh năm, nào khi làm cỏ, nào khi tưới nước; giời nắng chói chang, rát hết da cháy cả tóc cũng phải đứng ở giữa cánh đồng, qua sang đông thì giời lạnh đến cắt thịt, xé da mà cũng phải ngâm chân xuống nước. Nói rút ra thì nghề nghiệp của ta, không nghề gì cực nhọc như nghề làm ruộng". Trong mối quan hệ với tự nhiên, những gì càng thân thuộc càng được tận dụng và càng có giá trị sử dụng. Đối với lúa, ngay cả lớp vỏ mềm bao quanh hạt gạo bị nát vụn khi xay, giã là cám cũng là vật có giá trị. Tục ngữ có câu “Bán cám thì ngon canh, nuôi lợn thì lành áo” không chỉ cho thấy giá trị của cám mà còn phản ánh hiện thực là người nông dân hiểu rất rõ giá trị của những sản phẩm từ lúa. Sự nhọc nhằn, cơ cực quanh năm đó của nông dân đã được phản ánh khá đầy đủ trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Nếu để thống kê cho chính xác thì số lượng tục ngữ, ca dao, dân ca, hò, vè, đồng dao, câu đố,,.... nói đến cây lúa cùng các thứ khác cũng sẽ là một số lượng khá lớn. Bản thân những từ dùng để mô tả từng bộ phận và sản phẩm của cây lúa như đã được liệt kê ở trên đây cũng là một số lượng rất lớn. Tất cả đã tập hợp thành một hệ thống có những yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau mà ở đó, mối liên kết mật thiết giữa tộc người Việt và nền văn minh lúa nước phần nào được thể hiện. Về hình thức, có thể phân nhóm những câu ca dao tục ngữ liên quan đến lúa làm ba nhóm chính. Nhóm thứ nhất nói về cuộc sống của nông dân và quá trình canh tác lúa nước. Nhóm thứ hai có nội dung dùng các hình ảnh cánh đồng, xay lúa, giã gạo để thể hiện tâm tư, tình cảm như tình cảm gia đình, tình yêu nam nữ. Nhóm thứ ba là nhóm nói về đạo đức và pháp luật ở đời thông qua những hình ảnh của lúa. Như vậy, có thể nói lúa đã xuất hiện trong khá nhiều lĩnh vực cuộc sống của người Việt và đưa vào văn học dân gian một cách rất tài tình. Tất nhiên, độ phong phú của từ vựng về lúa cũng như sự xuất hiện dày đặc của lúa trong văn học dân gian chỉ là bề mặt của vấn đề. Để hiểu biết sâu sắc hơn về lúa và nền văn minh lúa nước đối với người Việt thì cần phải đi sâu vào nội dung ý nghĩa của những từ, các câu ca dao, tục ngữ đó và mở rộng ra là nhiều loại hình khác của văn học dân gian nữa.