1. Tiền lãi trả sau là gì?
Tiền lãi thanh toán trái phiếu vào thời điểm sau này, khi đáo hạn trong trường hợp trái phiếu không cuống lãi. Thanh toán tiền lãi tích lũy trong suốt thời kỳ lưu giữ nhưng không có tiền lãi, được thực sự thanh toán vào ngày thu hồi.
Tiền lãi chưa thanh toán trong cầm cố lãi suất điều chỉnh. Nếu khoản thanh toán hằng tháng không chi trả toàn bộ chi phí tiền lãi cho khoản vay, thì tiền lãi chưa thanh toán được gộp vào vốn vay gốc. Tiền lãi trả sau có thể xảy ra khi thế chấp được bắt đầu dưới lãi suất thị trường, và bên vay đồng ý thanh toán khoản chênh lệch (tiền lãi trả sau) trong những năm sau của khoản vay.
2. Thư tín dụng trả chậm
Khái niệm
Thư tín dụng trả chậm (hay L/C trả chậm) trong tiếng Anh là Deferred Letter of Credit, viết tắt là Deferred L/C.
Thư tín dụng trả chậm là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có kì hạn do ngân hàng thực hiện để phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
3. Nội dung của thư tín dụng trả chậm
Thư tín dụng trả chậm bắt đầu được sử dụng vào khoảng đầu những năm 1950 theo tập quán thanh toán của Far Eastern Trade, nơi các công cụ có thể chuyển nhượng không được sử dụng rộng rãi.
Hàng hóa sẽ được giao cho người mua trước ngày thanh toán hoặc trước ngày người bán nhận được tiền thanh toán. Nếu hàng hóa có khiếm khuyết hoặc không đúng theo qui định trong hợp đồng, người mua có thể khiếu nại người bán.
Khi chứng từ qui định trong thư tín dụng được xuất trình, các ngân hàng vẫn tiến hành kiểm tra chứng từ giống như qui trình nghiệp vụ thông thường, ngoại trừ hối phiếu không được kí phát khi thanh toán theo thư tín dụng trả chậm.
Theo thư tín dụng trả chậm, việc thanh toán cho người hưởng lợi sẽ được thực hiện vào một ngày thỏa thuận trước trong tương lai, có thể là sau một vài ngày, hoặc một vài tháng kể từ ngày giao hàng hay kể từ ngày xuất trình chứng từ.
Đôi khi, loại thư tín dụng này còn được gọi là thư tín dụng trả sau khi xuất trình. Người phát hành thư tín dụng có nghĩa vụ thanh toán cho người hưởng lợi vào ngày thỏa thuận trước song cũng có thể thanh toán từng phần theo định kì qui định.
Điều 2(b) UCP 600 có qui định cho phép thư tín dụng được thanh toán trả sau vào ngày đáo hạn và có thể xác định theo các mốc thời gian qui định theo thư tín dụng.
Cần lưu ý sự khác nhau giữa thư tín dụng trả chậm (deferred L/C) và thư tín dụng trả tiền sau (Usance L/C). Với thư tín dụng trả tiền sau, người hưởng lợi phải kí phát hối phiếu trả tiền sau, còn với thư tín dụng trả chậm, người hưởng lợi không kí phát hối phiếu đòi tiền ngân hàng phát hành.
4. Thời gian hoãn nợ
Khái niệm
Thời gian hoãn nợ là khoảng thời gian người vay không phải trả lãi hay gốc cho khoản vay. Thời hạn của thời gian hoãn nợ có thể khác nhau và thường được thỏa thuận bằng một hợp đồng giữa hai bên trước đó. Ví dụ, một khoản cho vay sinh viên thường kéo dài đến ba năm, trong khi nhiều trái phiếu doanh nghiệp có thời gian hoãn nợ là 5 năm.
Hiểu về Thời gian hoãn nợ
Thời gian hoãn nợ trong tiếng Anh được gọi là Deferment Period. Thời gian hoãn nợ là khoảng thời gian người vay không phải trả lãi hay gốc cho khoản vay. Thời hạn hoãn nợ là khoảng thời gian mà người đi vay không có nghĩa vụ phải trả gốc hoặc lãi của khoản vay. Trong kỳ, tiền lãi của khoản vay được cộng dồn vào tiền gốc sau thời gian trả chậm.Ngoài ra, một hợp đồng thỏa thuận về thời gian hoãn phải được ký kết giữa người cho vay và người đi vay. Thông thường, người vay phải thể hiện khó khăn về kinh tế để được hoãn thời gian trả nợ.Trong trường hợp của một số khoản vay, thời gian hoãn trả sẽ tự động được áp dụng.
Thời hạn của thời gian hoãn nợ có thể khác nhau và thường được thỏa thuận bằng một hợp đồng giữa hai bên trước đó. Ví dụ, một khoản vay sinh viên được hoãn lại, thường lên đến ba năm, trong khi nhiều trái phiếu địa phương có thời gian hoãn lại là 10 năm.
Thời gian hoãn nợ áp dụng cho các khoản vay sinh viên, thế chấp, chứng khoán có thể mua lại, một số loại quyền chọn và yêu cầu quyền lợi trong bảo hiểm. Người vay nên cẩn thận không nhầm lẫn giữa thời gian hoãn nợ với thời gian ân hạn. Thời gian ân hạn là một khoảng thời gian sau ngày đáo hạn mà người vay có thể thực hiện thanh toán mà không bị phạt.
Thời gian ân hạn thường là các khoảng thời gian ngắn, chẳng hạn như 15 ngày, khi người vay có thể thanh toán quá hạn mà không có rủi ro về phí trễ hoặc hủy khoản vay hoặc hợp đồng. Thời gian hoãn nợ thường là các khung thời gian dài hơn, chẳng hạn như năm. Trong hầu hết các trường hợp, việc hoãn nợ không phải mặc định mà người vay sẽ cần phải nộp đơn cho người cho vay và nhận được sự chấp thuận cho việc hoãn nợ.
Hay có thể hiểu một cách khác về thời gian hoãn nợ như sau:
– Thời gian hoãn nợ là thời hạn theo thỏa thuận mà trong đó người đi vay không phải trả lãi hoặc gốc cho người cho vay đối với khoản vay.
– Tùy thuộc vào khoản vay, tiền lãi có thể được cộng dồn trong thời gian trả chậm, có nghĩa là tiền lãi được cộng vào số tiền đến hạn vào cuối thời gian hoãn.
– Chứng khoán có thể gọi được cũng có thể có thời gian hoãn lại, là thời gian mà công ty phát hành có thể mua lại chúng từ nhà đầu tư với mức giá xác định trước trước ngày đáo hạn.
Như vậy, từ khái niệm trên có thể cho thấy thời gian hoãn nợ áp dụng cho các khoản vay sinh viên, thế chấp, chứng khoán có thể mua lại, một số loại quyền chọn và yêu cầu quyền lợi trong bảo hiểm. Người vay nên cẩn thận không nhầm lẫn giữa thời gian hoãn nợ với thời gian ân hạn. Thời gian ân hạn là một khoảng thời gian sau ngày đáo hạn mà người vay có thể thực hiện thanh toán mà không bị phạt. Thời hạn ân hạn còn được hiểu là khoảng thời gian từ ngày khách hàng nhận tiền vay lần đầu tiên cho đến trước ngày bắt đầu của kì trả nợ đầu tiên.
5. Phân loại thời gian hoãn nợ
Thời gian hoãn nợ trong khoản vay sinh viên
Thời gian hoãn nợ khá phổ biến với các khoản vay sinh viên trong đó người vay vay tiền để trả cho các chi phí giáo dục. Người cho vay một khoản vay sinh viên có thể chấp nhận hoãn nợ trong khi sinh viên vẫn còn đi học hoặc ngay sau khi tốt nghiệp. Người cho vay cũng có thể thay đổi quyết định hoãn nợ tùy theo tình hình, giai đoạn khó khăn tài chính để đảm bảo người cho vay không vỡ nợ.
Trong một số trường hợp, lãi suất không cộng dồn vào các khoản vay của sinh viên và ngược lại. Phần lớn, lãi suất cộng dồn từ các khoản cho vay sinh viên trả chậm không có trợ cấp và không tích lũy trên các khoản vay sinh viên trả chậm có trợ cấp.
Thời gian hoãn nợ trong vay thế chấp
Thông thường, một khoản thế chấp mới sẽ bao gồm điều khoản hoãn khoản thanh toán đầu tiên. Ví dụ, một người vay kí một khoản thế chấp mới vào tháng 3 có thể không phải bắt đầu thanh toán cho đến tháng 5.
Thời gian hoãn nợ trong chứng khoán có thể mua lại
Tùy theo các loại chứng khoán khác nhau mà có thể có quyền chọn mua đính kèm cho phép nhà phát hành mua lại chúng với mức giá định trước trước ngày đáo hạn. Những chứng khoán này được gọi là chứng khoán có thể mua lại. Thời gian hoãn nợ là khoảng thời gian mà nhà phát hành không thể mua lại trái phiếu.
Thời gian hoãn nợ trong bảo hiểm
Quyền lợi được trả cho người được bảo hiểm khi họ mất khả năng và không thể làm việc trong một khoảng thời gian. Thời gian hoãn nợ là khoảng thời gian từ khi một người trở nên không thể làm việc cho đến khi lợi ích bắt đầu được trả. Đó là khoảng thời gian một nhân viên phải nghỉ việc do bệnh tật hoặc chấn thương trước khi bất kì lợi ích nào sẽ bắt đầu tích lũy. Công ty bảo hiểm sẽ vẫn cung cấp quyền lợi bảo hiểm đó, đồng thời người được bảo hiểm sẽ phải đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tính bảo hiểm cho khoảng thời gian trì hoãn.
Ví dụ về thời gian trì hoãn Trái phiếu phát hành có thời hạn 15 năm đến hạn có thể có thời gian hoãn lại là sáu năm. Điều này có nghĩa là các nhà đầu tư được đảm bảo thanh toán lãi suất định kỳ trong ít nhất sáu năm. Sau sáu năm, công ty phát hành có thể chọn mua lại trái phiếu, tùy thuộc vào lãi suất trên thị trường. Hầu hết các trái phiếu địa phương đều có thể gọi được và có thời gian hoãn lại là 10 năm.
Dựa trên cách phân loại theo 04 tiêu chí trên thì trong quá trình hoạt động đối với những khoản nợ dành cho nhung đối tượng trên thì tổ chức cho vay sẽ căn cứ theo tính chất, mức độ và lý do của những khoản vay để có thời gian hoãn nợ phù hợp đúng với hoàn cảnh đối tượng.
Ưu điểm và nhược điểm của thời gian hoãn nợ?
Ưu điểm của thời gian hoãn nợ
Là một người đi vay, người ta phải được giáo dục về những mặt tích cực và tiêu cực mà thời gian trả chậm mang lại. Dưới đây là những ưu điểm của thời gian trì hoãn:
– Nó trì hoãn việc hoàn trả khoản vay.
– Thời gian bổ sung được đưa ra để cải thiện điều kiện tài chính.
– Thời gian trì hoãn làm giảm áp lực trả nợ liên tục.
– Thời gian trì hoãn dài hơn nhiều so với thời gian gia hạn.
– Trong một số trường hợp, nó tránh được phí trễ hạn.
– Trong một số trường hợp, nó tránh thu hồi tài sản thế chấp.
Nhược điểm của thời gian hoãn nợ
– Trong thời gian trả chậm, tiền lãi đang được cộng dồn.
Có thể thấy theo như khái niệm về thời gian hoãn nợ là khoảng thời gian người vay không phải trả lãi hay gốc cho khoản vay. Tuy nhiên việc không phải trả đó không đồng nghĩa với việc trong thời gian đó số tiền lãi của khoản nợ đó vẫ sẽ phát sinh va cộng dồn trong khoảng thời gian hoãn nợ đó.
– Tổng dư nợ cho vay tăng lên do lãi phát sinh.
Theo kế toán dồn tích, lãi dự thu là số tiền lãi đã phát sinh hoặc thu được trong kỳ báo cáo, bất kể khi nào sẽ được trả. Mục nhập điều chỉnh cho lãi dự thu bao gồm thu nhập từ tiền lãi và tài khoản phải thu từ phía bên cho vay hoặc chi phí lãi vay và khoản phải trả từ phía bên vay. Lãi trái phiếu dự thu là khoản lãi đã phát sinh nhưng chưa được thanh toán kể từ ngày thanh toán lãi trái phiếu cuối cùng.
Kế toán theo phương pháp dồn tích yêu cầu các khoản doanh thu và chi phí phải được ghi nhận trong kỳ kế toán khi chúng phát sinh, bất kể khi nào các khoản thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện. Phương pháp kế toán dồn tích tiết lộ tình hình tài chính của công ty chính xác hơn so với phương pháp dựa trên tiền mặt.
Số tiền lãi phát sinh được ghi vào mục điều chỉnh của cả người đi vay và người cho vay vào cuối mỗi tháng. Mục nhập bao gồm thu nhập lãi hoặc chi phí lãi vay trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và một khoản phải thu hoặc phải trả trên bảng cân đối kế toán.
Vì việc thanh toán lãi phát sinh thường được thực hiện trong vòng một năm, nên nó được phân loại là tài sản lưu động hoặc nợ ngắn hạn. Mục nhập của người đi vay bao gồm một khoản ghi nợ trong tài khoản chi phí lãi vay và một khoản ghi có trong tài khoản lãi phải trả tích lũy. Mục nhập của người cho vay bao gồm ghi nợ lãi dự thu phải thu và ghi có vào doanh thu lãi.
– Trong một số trường hợp, người vay phải trả thêm phí.
– Người vay phải chứng minh họ đang gặp khó khăn về tài chính.
Điều này có thể thấy trực tiếp ngay trong khoảng thời gian hiện tại cũng như đã có nhũng thông tư được ban hành về hoãn nợ,gia hạn nợ,… do tình hình dịch COVID-19 diễn ra phức tạp khó kiểm soát dẫn đến việc khó khăn trong tài chính đối với cả nhà nước, doanh nghiệp và công dân.
– Người cho vay chấp nhận rủi ro bằng cách đưa ra thời hạn trả chậm vì người đi vay có thể không đủ ổn định về tài chính để trả khoản vay sau khi hết thời gian hoãn.
Thời gian trì hoãn là một lựa chọn khả thi cho những người đang gặp khó khăn về kinh tế. Nó cung cấp cho người vay một khoảng không gian thở và cho phép họ đứng vững trở lại bằng cách hoãn trả khoản vay và lãi suất. Tuy nhiên, tổng dư nợ cho vay tăng lên do được hoãn lại.
Như vậy, đối với thời gian hoãn nợ thì nhìn về mặt tích cực thì hỗ trợ cho những cơ quan, doanh nghiệp hay người dân có nợ có thể có thêm thời gian để chuẩn bị tuy nhiên thời gian hoãn đó lại không được trừ lãi và sẽ phát sinh cộng dồn. Chính vì vậy, đối với tổ chức, cá nhân nào hưởng lợi ích thì là điều kiện tốt còn đối với cá nhân, tổ chức không có khả năng thì đó vẫn là gánh nặng trong nợ gốc và nợ lãi.