1. Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Ban kiểm soát là cơ quan chi có trong mô hình 1. Theo đó, mô hình này là mô hình bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Chỉ trong trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát .
Từ quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020, người đọc dễ liên tưởng pháp luật về doanh nghiệp Vỉệt Nam quy định mô hình 1 chính là cấu trúc hội đồng kép (hội đồng hai tầng) trong luật công ty của các nước châu Âu như Đức hoặc Pháp. Tuy nhiên, trên thực tế, mô hình này của Việt Nam không hoàn toàn theo cấu trúc hội đồng kép. Bởi vai trò của Ban kiểm soát trong pháp luật Việt Nam không giống với vai trò của cơ quan kiểm soát ữong cấu trúc trên. Cũng vì thế, trong báo cáo của mình, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng chỉ xếp Ban kiểm soát trong quàn trị của Việt Nam nằm vào nhóm các “ủy ban khác” (Other Committees) chứ không coi đây là cơ quan kiểm soát trong cấu trúc hội đồng hai tầng .
 

2. Thành phần và thẩm quyền của Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
Như vậy, cũng tương tự như Hội đông quản trị, Luật doanh nghiệp năm 2020 không quy định nhiệm kỳ của Ban kiểm soát mà chi quy định nhiệm kỳ của các thành viên Ban kiểm soát. Để bảo đảm những người quản lý không lạm quyền, cần phải có một cơ chế để giám sát. Tuy vậy, những người thực hiện chức năng giám sát về bản chất cũng chi là những người được ủy quyên từ chủ sở hữu. Do đó, nhằm tránh tình trạng chồng chéo về chức năng, cần thiết phải xác định chức năng của Ban kiểm soát trong cấu trúc quản trị của công ty. Theo đó, Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định chức năng cơ bản nhất của Ban kiểm soát là thay mặt chủ sở hữu (cổ đông) giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc và các thành viên quản lý khác trong việc tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và việc tuân thủ nghĩa vụ của người quản lý.
 

3. Thẩm quyền của ban kiểm soát trong công ty cổ phần

- Thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty.
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.
- Thẩm định các báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trình báo cáo thẩm định tại cuộc họp thường niên Đại hội đồng cổ đông.
- Rà soát, kiểm tra và đánh giá hiệu lực và hiệu quả cùa hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro và cảnh báo sớm của công ty...
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
Để có thể thực hiện chức năng giám sát, Ban kiểm soát có quyền xem xét sổ kế toán, ghi chép kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông lớn quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Luật cũng cho phép Ban kiểm soát có quyền tham dự và tham gia thảo luận tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và các cuộc họp khác của công ty cũng như mở ra khả năng sử dụng tư vấn độc lập, bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty để thực hiện các nhiệm vụ trên .
 

4. Tiêu chuẩn, điều kiện của Ban kiểm soát

Xuất phát từ chức năng giám sát hoạt động quản lý và người quản lý trong công ty, yêu cầu đầu tiên để bảo đảm tính hiệu quả là các thành viên Ban kiểm soát phải độc lập với người quản lý trong công ty.
Mặt khác, hoạt động giám sát là hoạt động mang tính nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán. Do đó, trên thực tế, các công ty luôn yêu cầu thành viên Ban kiểm soát phải là người có năng lực về kế toán/kiểm toán. Cụ thể, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020, thành viên Ban kiểm soát phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020;
- Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đê, mẹ nuôi, con đè, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và người quản lý khác;
- Không được giữ các chức vụ quản lý công ty; không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.
Ngoài ra, Điều lệ của các công ty có thể quy định thêm các điều kiện khác.
 

5. Một số thông tin khác

"Báo chí đưa tin về sự kiện doanh nghiệp A kinh doanh nước giải khát lớn của Việt Nam có ngụy cơ bị giải thể. Nhìn từ góc độ quản trị doanh nghiệp còn nhiều chuyện đáng bàn.

Cổ nhân có câu “đồng tiền đi liền khúc ruột”. Nhưng trong công ty, người quản lý trong không phải là người bỏ tiền thành lập công ty (chủ sở hữu). Từ đó dễ nảy sinh khả năng chiếm đoạt khối tài sản này làm của riêng mình. Do vậy, nhằm bảo đảm những người quản lý trong công ty làm việc mẫn cán cũng như bảo đảm quyền sở hữu của cổ đông, thông thường pháp luật các nước quy định nhiều nghĩa vụ mà người quản lý phải tuân thủ. Chung quy lại, có hai nghĩa vụ quan ưọng mà người quản lý phải bảo đảm là (i) Nghĩa vụ cẩn trọng và (ii) Nghĩa vụ trung thành. Điều đó có nghĩa phàm làm việc gì, người quản lý cũng phải thực hiện một cách cẩn thận. Cẩn thận được hiểu là những người bình thường trong hoàn cảnh như vậy cũng sẽ thực hiện theo cách thức tương tự mà không làm khác đi.

Trung thành có nghĩa là trong quá trình thực hiện việc quản lý, người quản lý doanh nghiệp phải luôn đặt lợi ích của công ty lên hàng đầu (lưu ý rằng, chữ lợi ích ở đây được hiểu theo nguyên nghĩa là lợi ích hợp pháp).
Tuy vậy, như trên đã nói, người quản lý không phải là cổ đông của công ty. Đồng thời với quá trình thực hiện công việc, họ được hưởng lợi ích từ chính quá trình quản lý của họ.
Tùy theo tình hình, nhu cầu cũng như sự phát triển của kỹ thuật lập pháp mà pháp luật mỗi nước sẽ có những quy định cụ thể nhưng nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp đại thể là như vậy.
Cần thấy rằng các nghĩa vụ mà người quản lý phải tuân thủ cũng như quyền lợi mà họ được hưởng luôn được nhìn nhận một cách song hành với nhau. Cụ thể hơn, mục đích của công ty thuê những nhà quản trị giỏi để công ty có thể vận hành tốt, qua đó làm ăn có lãi. Như vậy, khi làm ăn có lãi, việc công ty trích một phần lợi ích mà mình kiếm được để trả công cho người quản trị là việc làm không cần phải bàn cãi. Các cổ đông của công ty cũng sẽ không có ý kiến về việc thưởng cho Giám đốc (nhà quản lý) vì các cổ đông chi bỏ tiền vào công ty, nhưng công khó nhọc quản lý công ty thì họ không phải làm. “Kẻ góp của, người bỏ công” là một hình dung dễ hiểu. Công ty làm ăn có lãi, người quản lý cũng sẽ có lợi. Lợi ích của công ty và lợi ích của người quản lý là một!
Để công ty làm ăn có lãi, người quàn lý phải làm việc rất cẩn thận, lúc nào cũng cố gắng tìm mối lợi cho công ty. Bởi vì, nếu không cẩn trọng, không trung thành, công ty sẽ không có lãi và họ cũng sẽ không được thưởng. Động lực cho quá trình quản lý nghiêm túc, sáng tạo cũng từ đó mà ra. Nhưng khi thực hiện điều này cũng chính là người quản lý đang thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ. Như vậy, chính cơ chế gắn lợi ích của người quản lý và công ty đã làm quyền và nghĩa vụ cùa người quản lý không tách rời nhau. Nói cách khác, người quản lý không có cảm giác bị ép buộc phải thực hiện nghĩa vụ một cách bắt buộc.
Nhưng cũng chính từ việc Giám đốc không phải là người sở hữu công ty nên có một cách khác để họ hưởng lợi mà không cần phải tuân thủ các nghĩa vụ của người quản lý. Cụ thể, Giám đốc sẽ bằng cách thức khác nhau để biến tài sản của công ty chuyển thành tài sản của mình. Dạng thức của hành vi có thể rất đa dạng, nhưng có thể hình dung việc kiếm lợi của người quản lý bằng cách này thông qua cụm từ “giao dịch nội gián”. Có hai cách để Giám đốc thực hiện các giao dịch này: (i) Tự mình hoặc người thân của mình giao dịch với công ty hoặc (ii) Giúp cho bên thứ ba giao dịch với công ty và hưởng lợi từ bên thứ ba.
Để ngăn ngừa khả năng này, pháp luật cho phép cổ đông có thể khởi kiện đối với người quản lý. Giám đốc sẽ phải bồi thường toàn bộ tổn thất trong trường hợp cồ đông chứng minh được người quản lý vi phạm nghĩa vụ.
Trong vụ việc Công ty A cần phải làm rõ mấy vấn đề sau:
Việc A đầu tư mua cổ phiếu của một cổ đông lớn của công ty có phải là hành vi đầu tư bình thường hay đây là hành vi “trợ giúp” cho cổ đông? Khi đậu tư mua một lượng lớn cổ phần như vậy, Công ty A sẽ đạt lợi ích gì?
Việc đầu tư chéo và mối quan hệ vay mượn giữa A và các cổ đông có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của A ?
Sự khôn khéo của A chính là việc thành lập B. Với việc thành lập này, C tập trung bán hàng và phân phối, còn B quản lý hoạt động mua hàng, logistics và các bộ phận liên quan đến sản xuất. Đe đẩy mạnh bán hàng, cần phải xây dựng mạng lưới phân phối. Kết quả của quá trình xây dựng mạng lưới phân phối là mang tính dài hạn, không thể thu hồi vốn trong thời gian ngắn. Cùng với các khoản đầu tư chéo không hiệu quả, A bị khủng hoảng vốn, bắt buộc phải bán toàn bộ B. Lúc này, A chỉ còn đúng nghĩa là một doanh nghiệp phân phối. Từ chỗ là một doanh nghiệp sản xuất với thương hiệu A hãng này đã trở thành nhà phân phối.
Đe hoàn tất việc sở hữu toàn bộ A , cần phải làm tiếp một bước nữa. Đó là phải đẩy chi phí của B cho A . Theo đó, A vẫn tiếp tục xây dựng mạng lưới phân phối. Tiền thì A phải tự bỏ ra. Có nghĩa là hãng này vẫn không có lợi nhuận. Việc còn lại là C mua toàn bộ từ các cổ đông khác của công ty với mức giá rẻ, hoàn tất thương vụ thâu tóm. Điều quan trọng mà C quan tâm không phải là Công ty A mà chính là mạng lưới phân phối mà hãng này xây dựng. So với công sức và chi phí mà C phải bỏ ra để tự xây dựng thì việc bỏ tiền mua toàn bộ cổ phần của các Cổ đông còn lại là rẻ hơn nhiều.
Như vậy, qua vụ việc này, cần phải đánh giá lại vai trò của nhà quản trị trong tình trạng trì trệ của A hiện nay. Theo quy định cùa pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam, cổ đông của A hoàn toàn có quyền khởi kiện đối với người quàn lý nếu có căn cứ cho rằng các quản trị viên của A đang thực hiện các giao dịch phục vụ lợi ích của người thứ ba . Tuy vậy, chứng minh những nghi vấn ở trên là không phài dễ. Đặc biệt là trong bối cảnh của Việt Nam hiện chưa có nhiều các khiếu kiện của cổ đông đối với người quản lý như trong trường hợp này.