1. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là gì?
Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể đồng bào cả nước và toàn thể thế giới: “… Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Trong suốt 24 năm với cương vị người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên định cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân ta từng bước đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền tự do, bình đẳng giữa các dân tộc. Trước lúc đi xa, điều mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
Tuyên ngôn độc lập là văn bản đầu tiên khẳng định cả mặt lý luận và thực tế quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộc của nhân dân Việt Nam phù hợp với đạo lý, pháp lý quốc tế. Tư tưởng quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong bản Tuyên ngôn vừa mang tính pháp lý vừa có giá trị lịch sử và hiện thực. Viện dẫn giá trị nhân quyền trong hai bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của nước Pháp: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý mới có ý nghĩa thời đại, bằng cách “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Và đương nhiên, “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập”. Bởi thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Lập luận đanh thép ấy đã khẳng định tính hợp lý, hợp pháp theo pháp luật quốc tế của quyền con người, quyền tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam, mà những ai có trí tuệ, có lương tri, nhân phẩm không thể không công nhận chân lý hiển nhiên ấy.
2. Hoàn cảnh ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập
- Ngày 19/8/1945, chính quyền ở Hà Nội đã về tay nhân dân. Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Người soạn thảo bản “Tuyên ngôn độc lập” tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang. Ngày 02/09/1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”.
- Lúc này cũng là thời điểm bọn đế quốc, thực dân nấp sau quân Đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật, đang âm mưu chiếm lại nước ta. Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng nên Đông Dương phải thuộc quyền của Pháp.
3. Nội dung chính của Tuyên ngôn độc lập
Văn kiện công bố với toàn thể quốc dân Việt Nam, với nhân dân và các quốc gia trên thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, do Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đọc tại cuộc mít tỉnh quần chúng gần một triệu người tham dự chiều ngày 2.9.1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
Tuyên ngôn độc lập Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, được tập thể Chính phủ lâm thời thông qua và cùng kí tên trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ trước ngày 2.9.
Trong phần mở đầu, Tuyên ngôn độc lập khẳng định một nguyên lí có ý nghĩa của thời đại mới - thời đại tất cả các dân tộc bị chế độ thuộc địa - thực dân đầy đoạ vùng lên đòi quyển sống: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do", đồng thời "Tuyên ngôn..." lại khẳng định nguyên lí: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi theo tỉnh thần của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789, vì “đó là những lã phải không ai chối cãi được".
Từ những cơ sở nguyên lí mang đậm tính nhân văn, nhân bản cao cả đó, Tuyên ngôn độc lập Việt Nam lên án mạnh mẽ bọn thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng để áp bức đồng bào ta. Chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do, dân chủ nào.
Bản Tuyên ngôn đã mạnh mẽ lên án bọn thực dân thi hành những pháp luật dã man, lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân, bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng nhận mình là người bảo hộ nhưng đã hai lần bán nước ta cho phát xít Nhật, làm cho dân ta chịu hai tầng xiềng xích, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn, kết quả là hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói. Đây là một hành vi, một loại tôi mang tính diệt chủng.
Trước ngày 9.3, khi thực dân Pháp bị phát xít Nhật lật đổ, Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật, nhưng chúng không những không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh, thậm chí đến khi thua chạy, chúng lại nhẫn tâm giết nốt số đông s tù chính trị mà chúng giam giữ.
Tuyên ngôn chỉ rõ, là từ mùa Thu năm 1940, Việt Nam đã thành thuộc địa của Nhật. Khi Nhật đầu hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy đánh đổ xiểng xích thực dân, đánh đổ chế độ quân chủ giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Với tư cách là người làm chủ nước nhà, nhân dân Việt Nam mà người đại diện chân chính là Chính phủ làm thời, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Đứng vững trên lập trường dân tộc tự quyết, quyền sống trong độc lập, tự do của một dân tộc gần 100 năm đã đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp và đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít, nhân dân Việt Nam tin chắc rằng, các nước Đồng minh đã công nhận quyền dân tộc tự quyết, quyết không thể không công nhận độc lập của dân Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tỉnh thần và lực lượng, tính mạng và tài sản để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy. Tuyên ngôn độc lập 2.9 chỉ gồm hơn 1000 từ đã thể hiện một cách thật sống động, sức tích tất cả những gì là cơ bản nhất cần được đề cập trong một bản Tuyên ngôn độc lập: đó là đanh thép kết tội †100 năm thống trị tàn bạo của chế độ thực dân, là cuộc đấu tranh ngoan cường, quyết liệt của dân tộc Việt Nam trong suốt thời gian đó thể hiện phẩm chất, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng độc lập, tự do và cả quyết tâm sắt đá bảo vệ độc lập, tự do vừa giành được, và điều cũng rất cơ bản - điều cơ bản có tính thời đại: như chỉ ra cho các dân tộc trên thế giới cùng thấy, tất cả các dân tộc sinh ra đều bình đẳng; các dân tộc và mọi người đều có quyển sống. quyền sung sướng và quyền tự do. Với nội dung đó, Tuyên ngôn độc lập Việt Nam không những chỉ thực hiện được quyền của dân tộc Việt Nam mà chính cũng đã nói đến quyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc sống trong độc lập, tự do và quyền đấu tranh của tất cả các dân tộc lúc bấy giờ đang rên xiết dưới ách thống trị thực dân đứng lên giành quyền cơ bản để sống độc lập, tự do.
Với tinh thần đó, Tuyên ngôn độc lập Việt Nam cũng là lời tuyên ngôn của tất cả các dân tộc, là lời kêu gọi thống thiết gửi đến tất cả các dân tộc đang sống dưới ách thống trị thực dân đứng lên giành tự do 'lấy sức ta mà giải phóng cho ta". Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.
Tuyên ngôn độc lập Hỗ Chí Minh thực Sự là một áng thiên cổ hùng văn có một giá trị văn hoá tinh thần cao cả, đó cũng chính là "một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng dịnh quyền tự do, độc lập, bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức" (Lời của õng Giám đốc Trường đại học Băng Đung phát biểu trong dịp nhà trưởng tổ chức lễ trao bằng tiến sĩ Luật danh dự cho Chủ tịch Hồ Chỉ Minh, khi người thăm Inđônêxia năm 1959).
4. Giá trị của Tuyên ngôn độc lập đối với cách mạng Việt Nam
- “Tuyên ngôn độc lập” phản ánh ý chí, khát vọng và khẳng định nền độc lập dân tộc trong suốt mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới:
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt mấy nghìn năm đã minh chứng cùng với truyền thống yêu nước, đoàn kết, giá trị cốt lõi, xuyên suốt đó là nền độc lập dân tộc Việt Nam. Bởi vì, ngay từ thuở bình minh dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải chịu ách xâm lược của các thế lực ngoại bang. Do đó, để có được nền độc lập dân tộc, các thế hệ “con Rồng, cháu Tiên” luôn kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược để giành và giữ nền độc lập dân tộc. Ý chí khát vọng được độc lập, đã được thể hiện ở nhiều áng văn thơ, được xem như những bản tuyên ngôn, được đúc kết bởi ý chí của những bậc anh hùng hòa quyện vào ý chí của cả dân tộc như: “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt; “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi; “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn... Đến “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự tiếp tục và nâng tầm khát vọng và ý chí thiêng liêng ấy của dân tộc ta trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Trong đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định độc lập là quyền tất yếu của tất cả các dân tộc trên thế giới, “là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Đồng thời, Người khẳng định một cách đanh thép rằng, các thế lực đế quốc, phong kiến không có bất cứ một căn cứ pháp lý và thực tiễn nào để chà đạp lên khát vọng thiêng liêng ấy của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, một sự thật hiển nhiên diễn ra trên thực tế là “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Trong khi đó, phát xít Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh, vua Bảo Đại - chế độ phong kiến cuối cùng ở Việt Nam cũng đã thoái vị. Vì lẽ đó, dân tộc ta phải được tự do, dân tộc ta phải được độc lập. Nếu không công nhận sự thật hiển nhiên đó, thì chính những thế lực đế quốc, thực dân đã làm trái với những tuyên ngôn mà các thế hệ cha, ông của họ đã từng hùng hồn tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền tự do, bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được”. Suy rộng ra “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (1). Trên thực tế, quyền của mỗi cá nhân con người không bao giờ tách rời mà luôn hoà quyện với quyền của quốc gia - dân tộc. Các quyền này là lẽ tự nhiên, vì thế, thực dân Pháp tiến hành xâm lược, áp đặt ách thống trị lên dân tộc Việt Nam hơn tám mươi năm qua là đi ngược lại lẽ tự nhiên. Từ đó, Người khẳng định “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập” (2). Đến đây, ý chí khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam trở thành hiện thực đó là một nền độc lập dân tộc thực sự, độc lập hoàn toàn. Nghĩa là, nền độc lập dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện trên thực tế. Tuyên ngôn khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập”. Bản chất của nền độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn là: dân tộc có đầy đủ quyền quốc gia về chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh , toàn vẹn lãnh thổ; độc lập dân tộc phải được thực hiện một cách triệt để và phải vì hạnh phúc của nhân dân. Đây chính là giá trị đích thực của độc lập dân tộc mà Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn, vì theo Người “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
- “Tuyên ngôn độc lập” là một cột mốc đánh dấu lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không chỉ khẳng định nền độc lập dân tộc của dân tộc Việt Nam mà “Tuyên ngôn độc lập” còn phản ánh bước ngoặt con đường phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam đó là giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1930, khi Đảng ta ra đời đã xác định tiến trình cách mạng Việt Nam “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Có nghĩa là cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Do đó, Cách mạng Tháng Tám thành công, giành độc lập dân tộc, “Tuyên ngôn độc lập” được công bố, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực sự là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam trên con đường phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đồng thời, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám được khẳng định trong Tuyên ngôn là cơ sở thực tiễn quan trọng, là tiền đề có ý nghĩa quyết định đến thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, giành chính quyền mới chỉ là bước đầu của cách mạng, sử dụng chính quyền của giai cấp vô sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, những nội dung trong “Tuyên ngôn độc lập” phản ánh bước ngoặt trong con đường phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội”. Đồng thời, “Tuyên ngôn độc lập” là bản anh hùng ca trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Nếu các cuộc kháng chiến chống quân Tống ở thế kỷ thứ XI và chống Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII là bản anh hùng ca bất hủ, là sự thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh, sáng tạo và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta và tài thao lược của vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, thì “Tuyên ngôn độc lập” là kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta và là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca mở đầu cho một kỷ nguyên mới của dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
- Tuyên ngôn độc lập là ngọn đuốc soi đường sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay:
Trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển, đảo, biên giới đất liền ở nhiều nơi giữa các nước, nhất là trên Biển Đông như hiện nay, những tư tưởng của Tuyên ngôn độc lập vẫn còn nguyên giá trị, là ngọn đuốc soi đường sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Trước hết, phải kiên định lập trường trước sau như một trong đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là mục tiêu chủ yếu, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó là sự kế thừa và tiếp nối ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Quán triệt tinh thần độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta xác định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ hiện nay không chỉ là chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ vùng trời, vùng biển, đảo, lòng đất của Tổ quốc mà còn gắn liền với việc bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ, thách thức, an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả mọi tình huống liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, độc lập dân tộc không chỉ xác định trong biên giới quốc gia, mà còn thể hiện thông qua vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, trong việc hợp tác giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu, an ninh phi truyền thống và đấu tranh, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc bên ngoài biên giới. Vận dụng những tư tưởng về độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nhất là về mối quan hệ giữa hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Theo đó, Đảng ta đã đổi mới mạnh mẽ tư duy đối ngoại với phương châm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
5. Quyền con người, quyền tự do, bình đẳng giữa các dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập
Bằng tư duy sáng tạo, vượt thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa quyền con người với quyền tự do, bình đẳng dân tộc. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một luận điểm mới về quyền con người: quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền tự quyết của mỗi dân tộc, thể hiện rõ tính thống nhất biện chứng không thể tách rời giữa quyền con người, quyền công dân và quyền dân tộc thiêng liêng. Mỗi con người luôn sống trong một cộng đồng dân tộc, quốc gia dân tộc cụ thể, nên dân tộc có được độc lập, thì con người mới được tự do. Như vậy, Người đã mở rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc. Đây là nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền tự do, bình đẳng giữa các dân tộc.
Việc nâng quyền con người thành quyền tự do, bình đẳng giữa các dân tộc là một sáng tạo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tâm huyết lớn của Người dành cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới. Nhà nghiên cứu Nhật Bản Shingo Shibata đã nhận xét: “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”(3). Đó là đóng góp lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam trong việc phát triển sáng tạo quyền con người của nhân loại ở thế kỷ XX.
Sự phát triển tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền dân tộc bắt nguồn sâu xa từ truyền thống nhân đạo và tinh thần yêu nước của dân tộc; kế thừa, phát triển tinh hoa tư tưởng nhân loại mà trực tiếp là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, xem quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội”, luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ lịch sử của nhân loại.
Trong khi đó, phải từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở đi, các văn kiện cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc mới thừa nhận quyền dân tộc tự quyết là một quyền con người. Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 ghi nhận: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết”(4). Tại Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo) năm 1993, cộng đồng quốc tế một lần nữa khẳng định: Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết… Việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhận thức rất sớm về mối quan hệ giữa quyền con người với quyền độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc.
Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp chà đạp lên quyền sống, quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam; khẳng định quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộc là kết quả đấu tranh kiên cường đầy khó khăn, gian khổ hơn 80 năm của toàn thể dân tộc Việt Nam mới có được. Từ năm 1925, trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc kết tội thực dân Pháp đã xâm phạm quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân con người và dân tộc, không chỉ ở Việt Nam, Đông Dương mà còn ở cả châu Phi, châu Mỹ La tinh. Người kết luận, những khái niệm “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” mà những kẻ thực dân rêu rao ở các thuộc địa chỉ là những lời sáo rỗng, “bịp bợm”. Trong Tuyên ngôn, Người luận tội chúng: “… hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.ã man… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân… Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều” …
Từ đó, Người khẳng định, nhờ “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Thực tế, quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộc là thành quả của cuộc đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ của hàng triệu triệu người Việt Nam. “Độc lập và tự do” đã trở thành giá trị sống thiêng liêng, là mục tiêu xuyên suốt chiều dài cách mạng Việt Nam. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu tranh cho nhân quyền, thắng lợi đó không chỉ giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình mà còn mở đầu cho phong trào giải phóng thuộc địa, mang lại quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộc cho các dân tộc bị áp bức, nô dịch trên toàn thế giới. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam là thắng lợi của tư tưởng nhân quyền cao cả, là thắng lợi của ý chí hòa bình, độc lập và phẩm giá con người.
Hiện nay, các thế lực thù địch ra sức vu khống, xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đưa Việt Nam vào danh sách “các nước đặc biệt quan tâm về tôn giáo”… nhằm kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai”, “chia nhỏ”, “xé lẻ” Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhưng thực tiễn hơn 70 năm lãnh đạo nhà nước cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định việc bảo đảm quyền con người là một mục tiêu, động lực của cách mạng, là trách nhiệm lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Được cổ vũ bởi quyền con người, quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam trong Tuyên ngôn, toàn thể dân tộc Việt Nam đã anh dũng chiến đấu thu được những thắng lợi vẻ vang. Với tâm niệm “một dân tộc nô lệ không thể có con người tự do”, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đây chính là cội nguồn sức mạnh để quân và dân ta lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm cho quyền sống của dân tộc và quyền sống của con người càng gắn bó hữu cơ hơn, vững bền hơn. Với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” dân tộc ta đã 20 năm kiên cường chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, khẳng định quyền con người thiêng liêng, cơ bản nhất - quyền được sống trong độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội.