1. Quy định về định kiến giới

Định kiến giới được hiểu là những quan điểm, thái độ, ý thức, và sự đánh giá có chiều hướng tiêu cực về các khía cạnh liên quan đến giới tính nam và nữ, chẳng hạn như vị trí, vai trò, tầm quan trọng, và năng lực của nam hoặc nữ.  Theo đó, định kiến giới là sự nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch và tiêu cực về các đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ, theo quy định của khoản 4 Điều 5 của Luật Bình đẳng giới năm 2006. Thường thì, định kiến giới thường không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình thực tế về giới tính nam nữ, và thường mang tính chất chưa phù hợp. Sự khác biệt trong định kiến giới có thể phát sinh từ nhiều yếu tố như văn hóa địa phương, phong tục tập quán, và quan điểm cá nhân.

Để loại bỏ định kiến giới, không thể đạt được một cách ngay lập tức mà đòi hỏi sự đầu tư và cam kết kéo dài theo thời gian. Quan trọng nhất là việc tăng cường nhận thức về giới và bình đẳng giới cho mọi tầng lớp xã hội. Việc giáo dục về bình đẳng giới và định kiến giới đòi hỏi sự hợp tác đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.

Nội dung giáo dục về bình đẳng giới cần được tích hợp một cách toàn diện trong chương trình giáo dục từ cấp mầm non đến đại học và thậm chí cả sau đại học. Đồng thời, việc bổ sung và hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan đến bình đẳng giới, cũng như xử lý mạnh mẽ các hành vi vi phạm quy định về bình đẳng giới, đều là rất quan trọng.

Tuyên truyền và thực hiện các chương trình liên quan đến vấn đề giới tính, nhằm loại bỏ định kiến giới, giúp cung cấp thông tin chính xác và hữu ích cho cộng đồng. Điều này sẽ đảm bảo rằng mọi người đều được trang bị kiến thức và nhận thức đúng đắn về vấn đề này, từng bước đưa xã hội đến gần mục tiêu loại bỏ định kiến giới.

2. Hành vi tổ chức biên soạn giáo trình có nội dung định kiến giới

Dựa vào điều 9 của Nghị định 125/2021/NĐ-CP, theo khoản 6 và các điểm c, d của khoản 7, được quy định như sau: Cụ thể, hành vi tổ chức giáo dục hướng nghiệp, biên soạn, phổ biến sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy với nội dung định kiến giới sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Đối với biện pháp khắc phục hậu quả, cần thực hiện các bước sau: Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều này; Buộc sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định về tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh có sự phân biệt đối xử về giới liên quan đến hành vi được quy định tại khoản 5 của Điều này; Buộc sửa đổi, thay thế hoặc đính chính sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới. Trong trường hợp không thực hiện sửa đổi, thay thế hoặc đính chính, buộc phải tiêu hủy các tài liệu có nội dung định kiến giới liên quan đến hành vi quy định tại khoản 6 của Điều này. Nếu có lợi ích bất hợp pháp từ hành vi vi phạm tại khoản 6 của Điều này, buộc phải nộp lại số lợi ích đó. Chú ý rằng theo khoản 2 của Điều 5 trong Nghị định 125/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền quy định áp dụng cho các hành vi trên đối với tổ chức sẽ là bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân nếu tổ chức có hành vi vi phạm hành chính giống như cá nhân.

Do đó, trong trường hợp một trường hoặc tổ chức vi phạm hành chính bằng việc tổ chức biên soạn giáo trình có nội dung định kiến giới, mức phạt có thể là từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Đồng thời, để khắc phục hậu quả, tổ chức đó cần thực hiện các biện pháp sau:

+ Buộc sửa đổi, thay thế hoặc đính chính giáo trình: Điều này áp dụng nếu giáo trình có nội dung định kiến giới. Nếu không thực hiện sửa đổi, thay thế hoặc đính chính, tổ chức sẽ buộc phải tiêu hủy các tài liệu có nội dung định kiến giới đối với hành vi vi phạm.

+ Buộc nộp lại số lợi ích bất hợp pháp: Nếu có bất kỳ lợi ích nào được hưởng từ việc biên soạn giáo trình định kiến giới, tổ chức phải nộp lại số lợi ích đó theo quy định. Những biện pháp này đều nhằm đảm bảo rằng hành vi vi phạm đã được khắc phục và có những hậu quả phù hợp theo quy định của luật pháp.

3. Thẩm quyền xử phạt hành chính hành vi tổ chức biên soạn giáo trình có nội dung định kiến giới

Dựa vào quy định của Nghị định 125/2021/NĐ-CP, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, có các điểm sau:

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 15.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 30.000.000 đồng; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định.

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 30.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định.

Dựa vào quy định trên, khi hành vi tổ chức biên soạn giáo trình có nội dung định kiến giới bị xác định và phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt, theo quy định của nghị định.

4. Những nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 

Dựa trên các quy định của Luật Bình đẳng giới 2006, bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được thể hiện qua nhiều mặt như sau:

+ Bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng: Nam và nữ được coi là bình đẳng về quyền và cơ hội tham gia các hoạt động học tập, đào tạo, và bồi dưỡng. Đây là một nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong nhiều quốc gia trên thế giới. Nguyên tắc này nhấn mạnh quyền lợi và cơ hội phát triển của cả nam và nữ mà không phân biệt giới tính.

+ Bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo: Cả nam và nữ đều có quyền chọn lựa ngành nghề học tập và đào tạo mà họ quan tâm mà không bị phân biệt giới tính. Nếu nam và nữ đều có cơ hội tự do lựa chọn ngành nghề mà họ quan tâm, họ có thể theo đuổi sở thích, đam mê và năng lực của mình mà không gặp phải rào cản do giới tính. Điều này không chỉ giúp tạo ra một môi trường giáo dục đa dạng và phong phú mà còn giúp tăng cường sự sáng tạo và hiệu suất trong nhiều lĩnh vực.

+ Bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách giáo dục: Nam và nữ đều được đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ mà không phải đối mặt với sự phân biệt giới tính.

+ Hỗ trợ cho nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo: Nữ cán bộ, công chức, viên chức mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong quá trình đào tạo và nâng cao kỹ năng.

+ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập và đào tạo, đảm bảo sự bình đẳng giới trong quá trình học. Hỗ trợ đào nghề cho lao động nữ khu vực nông thôn, giúp họ phát triển kỹ năng và cơ hội nghề nghiệp, theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Tổng hợp các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới và mức xử phạt. Nếu có bất cứ thắc mắc nào về vấn đề này hay gặp phải bất kì vấn đề pháp lý nào khác, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Trân trọng!