1. Thẩm quyền áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính

Luật quy định giao cho người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền xem xét chuyển sang áp dụng biện pháp thay thế, cụ thể, như đối với biện pháp nhắc nhở được giao cho người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật; đối với biện pháp quản lý tại gia đình, Luật giao cho Chủ tịch UBND cấp xã nơi có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

2. Thủ tục xem xét áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với NCTN

Đối với biện pháp nhắc nhở: Luật quy định trong quá trình xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục xử phạt quy định tại Mục 1 Chương III Phần thứ hai của Luật, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xét thấy vi phạm hành chính do NCTN thực hiện nếu có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 139 thì quyết định áp dụng biện pháp nhắc nhở. Đối với biện pháp quản lý tại gia đình: Luật quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Phần thứ ba của Luật đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 90, nếu xét thấy có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 140 của Luật thì quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình đối với đối tượng trong thời hạn từ 03 đến 06 tháng.

3. Thi hành biện pháp thay thế xử lý VPHC

Đối với biện pháp nhắc nhở, Luật quy định người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quyết định áp dụng biện pháp nhắc nhở đối với NCTN. Việc nhắc nhở được thực hiện bằng lời nói, ngay tại chỗ và không phải lập thành biên bản để chỉ ra những vi phạm do NCTN thực hiện. Đối với biện pháp quản lý tại gia đình, sau khi Quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình có hiệu lực, Chủ tịch UBND cấp xã nơi ra quyết định giao cho cha mẹ hoặc người giám hộ của NCTN để tổ chức thực hiện quyết định và phân công tổ chức, cá nhân nơi NCTN cư trú để phối hợp với gia đình trong việc tổ chức và giám sát thực hiện. Trong thời gian quản lý tại gia đình, NCTN được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng. Ngoài ra, để bảo đảm tính răn đe và đạt được mục đích của công tác giáo dục, khoản 5 Điều 140 quy định trong thời gian quản lý tại gia đình nếu NCTN tiếp tục vi phạm pháp luật thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp và xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Về hiệu lực thi hành

Luật quy định thời điểm có hiệu lực là từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Theo đó, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các quy định liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính của Pháp lệnh XLVPHC số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC hết hiệu lực thi hành, riêng đối với các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013.

5. Về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Với vai trò là cơ quan chấp hành, tổ chức thực hiện pháp luật và cơ quan xét xử, Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật XLVPHC nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm các quy định được thực hiện nghiêm túc và thống nhất trong phạm vi cả nước. Luật XLVPHC có phạm vi, đối tượng điều chỉnh rộng, để việc xây dựng các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật bảo đảm thống nhất và đồng bộ, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch triển khai thi hành Luật XLVPHC.

6. Tuyên truyền, phổ biến Luật XLVPHC

Biên soạn, xuất bản sách giới thiệu về Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao trách nhiệm, nhận thức của nhân dân và nhất là đối với đội ngũ cán bộ làm công tác xử lý vi phạm hành chính. Tổ chức hội nghị quán triệt triển khai Luật, đặc biệt là các nội dung mới so với Pháp lệnh hiện hành, phục vụ tích cực cho việc triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính. Xây dựng chuyên trang về Luật XLVPHC và tổ chức thực hiện Luật trên để cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về việc triển khai Luật, đồng thời liên tục cập nhật các hoạt động mới trong quá trình triển khai Luật. Nghiên cứu, xây dựng một số chuyên đề về Luật XLVPHC  đăng trên các tạp chí, báo để tuyên truyền, phổ biến các nội dung mang tính chuyên sâu.

7. Tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về Luật XLVPHC

Nghiên cứu, xây dựng và phát hành sách và tài liệu khác phục vụ công tác tập huấn chuyên sâu về Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành cho cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ trực tiếp xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm khi Luật có hiệu lực thi hành sẽ được áp dụng chính xác, thống nhất trên toàn quốc.

8. Rà soát, hệ thống hóa và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 

Ngay sau khi Luật XLVPHC được thông qua, các bộ, ngành khẩn trương tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật, lập danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ để phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính. Để bảo đảm Luật XLVPHC được thực thi ngay khi có hiệu lực, Chính phủ cầnchỉ đạo, phân công trách nhiệm xây dựng các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật XLVPHC, ví dụ như Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định về quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính v.v..

9. Xây dựng các đề án triển khai thi hành Luật XLVPHC

Để triển khai các quy định mới của Luật XLVPHC liên quan tới công tác quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, bên cạnh việc xây dựng các Nghị định, Chính phủ phải chỉ đạo hình thành các Đề án để triển . Vì vậy, Đề án quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính được khẩn trương nghiên cứu, hình thành ngay sau khi Luật được thông qua, tạo cơ sở cho các cơ quan, cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Thời gian thực hiện: Theo kế hoạch, các hoạt động triển khai thực hiện Luật XLVPHC sẽ được thực hiện trong ba năm, từ năm 2012 đến năm 2014.

10. Xử phạt đối với hành vi yêu sách của cải trong kết hôn

Theo đó, điểm đ khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn. Theo khoản 12 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ. Như vậy, kể từ ngày 01/9/2020, việc thách cưới quá cao hay đưa ra yêu sách của cải để cản trở kết hôn, ly hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn sẽ bị xử phạt.

11. Hành vi ngoại tình sẽ có thể bị phạt đến 5 triệu đồng

Một điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 82/2020 là việc quy định tăng gần gấp đôi mức phạt đối với hành vi ngoại tình.​ Theo đó, khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020 quy định phạt tiền 3-5 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm một trong các hành vi sau: Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ. Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác. Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

12. Phạt đến 40 triệu đồng nếu luật sư tiết lộ thông tin khách hàng khi chưa được phép

Theo đó, tại khoản 7 Điều 6 luật sư khi tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề mà không được khách hàng đồng ý bằng văn bản theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư; hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 09 tháng. Ngoài ra, các hành vi: Cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật; Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc; Tham gia lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người để gây rối trật tự công cộng, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự... cũng bị mức phạt tương tự.

13. Công chứng ngoài trụ sở bị phạt đến 7 triệu đồng

Hành vi Công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP được Chính phủ tăng mạnh. Hiện nay, tại khoản 8 Điều 1 Nghị định 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ hành vi này đang bị phạt từ 1.000.000 - 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, mức phạt đã tăng lên từ 3.000.000 - 7.000.000 triệu đồng. Đây cũng là mức phạt dành cho các hành vi vi phạm sau: Công chứng không đúng thời hạn quy định; sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; không dùng tiếng nói hoặc chữ viết là tiếng Việt; vi phạm các quy định về hướng dẫn tập sự như: Hướng dẫn nhiều hơn 02 người tập sự tại cùng một thời điểm, khi không đủ điều kiện theo quy định…; công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp không có phiếu yêu cầu công chứng; trong thành phần hồ sơ có giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung…