1. Tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, tôi và 4 nạn nhân khác cùng bị đối tượng N hiện đang trú ở chung cư OSC TP. Vũng Tàu lừa đảo chiểm đoạt số tiền tổng cộng khoảng 500 triệu đồng. Chúng tôi đã cùng nhau làm đơn tố giác gửi đến Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát Tp. Vũng Tàu, sau nửa tháng không thấy có thông báo phản hồi, tôi đã đến CSĐT Tp. Vũng Tàu hỏi thì được trả lời là vượt quá quyền hạn giải quyết của Công an thành phố, vì Công an TP chỉ giải quyết những vụ án lừa đảo dưới 200 triệu đồng. Chúng tôi lại tiếp tục gửi đơn lên Công an và Viện kiểm sát tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, rồi lại chờ đợi đến nay đã hơn 2 tháng vẫn không nhận được phản hồi. Tôi có gọi điện đến sở công an tỉnh thì được trả lời có nhận được nhưng lại không nói vì sao không phản hồi và cũng không nói rõ tình hình sẽ tiến hành ra sao. Hiện nay chúng tôi không biết nên làm như thế nào xin luật sư cho biết:
1. Trình tự khi gửi đơn tố giác tội phạm thì sẽ được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết từng bước ra sao?
2. Tiếp nhận hồ sơ, nội dung, và trình tự giải quyết có được thông báo cho bên tố giác biết không?
3. Nếu 2 cơ quan TP và tỉnh không giải quyết, cũng không trả lời thì chúng tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyết. Kính mong luật sự tư vấn giúp.
Trân trọng cảm ơn!
Người gửi: K.N

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hiện nay bạn cùng 4 người khác bị bị đối tượng N ở Tp.VT lừa đảo chiểm đoạt số tiền tổng cộng khoảng 500 triệu đồng. Bạn đã làm đơn tố cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát Tp.VT tuy nhiên bị trả lại do trả lời là vượt thẩm quyền. Sau đó đã tiếp tục giửi đơn lên Công an và Viện kiểm sát tỉnh BRVT, rồi lại chờ đợi đến nay đã hơn 2 tháng vẫn không nhận được phản hồi. Đối những câu hỏi mà bạn đặt ra chúng tôi xin tư vấn như sau:

1.1. Trình tự giải quyết tố giác tội phạm:

Thứ nhất, về việc tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm

Trong trường hợp này thì bạn nộp đơn tố giác tội phạm tại cơ quan điều tra cấp huyện hay cấp tỉnh đều đúng pháp luật.Bởi vì, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự: “Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền” và cơ quan điều tra ở đây phải có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm của bạn. Trong trường hợp nếu không thuộc thẩm quyền hay vượt thẩm quyền như cơ quan điều tra nói với bạn thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm chuyển vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cụ thể:

Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.…”

Như vậy, ở đây bạn đã gửi tin báo, tố giác tội phạm mà cơ quan điều tra không thụ lý Tp.VT không thụ lý là sai. Theo quy định trên thì nếu không thuộc thẩm quyền thì cơ quan CSĐT phải chuyển ngay đến cơ quan CSĐT có thẩm quyền. Trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan điều tra nơi bạn cấp huyện đó để họ xem xét lại vụ việc và yêu cầu họ trả lời bằng văn bản về việc chưa giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của bạn.

Thứ hai, về thời hạn giải quyết

Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTHS 2015 về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác của bạn Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Tuy nhiên, trong trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng...

1.2. Thông báo cho bên về việc tố cáo

Căn theo Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì người tố giác có quyền được thông báo về việc báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Nội dung này được quy định cụ thể như sau:

Điều 56. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:

a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa;

b) Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Như vậy trong quá trình giải quyết tố giác tội phạm thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan tiếp nhận thông váo về việc thụ lý và giải quyết hoặc việc chuyển vụ việc sang cơ quan có thẩm quyền khác. Trường hợp Nếu 2 cơ quan điều tra của TP và tỉnh không giải quyết, cũng không trả lời thì chúng tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyếtthì bạn có quyền khiệu nại lên thủ trưởng 2 cơ quan đó, yêu cầu giải thích rõ lý do không tiếp nhận. Và bạn có thể gửi đơn tố giác đến các cơ quan như: Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân, công an cấp xã...theo quy định tại Điều 145 Bộ luật TTHS năm 2015.

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

>> Xem thêm:  Giả mạo chữ ký để thừa kế tài sản giải quyết như thế nào ? Cách chia tài sản thừa kế hợp pháp ?

2. Giải đáp thắc mắc về một số tội xâm phạm sở hữu tài sản ?

Thưa luật sư, xin Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có người em bị bắt về tội trộm cắp tài sản là xe máy. Đã có hai tiền án ăn cắp xe máy. Lần này bị bắt vì ăn cắp 9 xe máy. Qua thời gian tạm giam tòa đưa ra mức án là 7- 15 năm. Vậy cho tôi hỏi luật sư như vậy có nặng quá không ?
Xin cảm ơn.

Trả lời:

Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 có quy định như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Li dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 173, "Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Li dụng thiên tai, dịch bệnh". Như vậy trước tiên cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét kết luận giám định tài sản "9 xe máy" mà em bạn trộm cắp trị giá bao nhiêu, trường hợp "trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng" thì đã thỏa mãn dấu hiệu định lượng theo khoản 3 Điều 173. Ngoài ra, còn xét tới hoàn cảnh phạm tội thực hiện tội phạm của em bạn trường hợp em bạn "li dụng thiên tai, dịch bệnh" để thực hiện hành vi trộm cắp của mình cũng là dấu hiệu thỏa mãn quy định tại khoản 3 Điều 173. Do đó, để có thể kết luận hành vi của em bạn bị Tòa án tuyên phạt với khung hình phạt từ 7-15 năm tù có hợp lý hay không còn xem xét tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là bao nhiêu hoặc có gây ra hậu quả rất nghiêm trọng hay không.

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

3. Không trả tiền góp có vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm dụng tài sản không ?

Chào luật sư, vào ngày 15/7/2019, cô H là mẹ của bạn tôi giới thiệu cô C và cô L đến cửa hàng của tôi mua 1 kệ Tivi, 2 bàn inox, 20 cái ghế, 1 khánh thờ với giá 15.000.000 đồng dưới hình thức trả góp 800.000 đồng/tuần và đưa trước cho tôi 1.000.000 đồng. Tôi giao hàng ngay sau đó.
Vào ngày 18/7 cô H giới thiệu cô T đến cửa hàng tôi xem hàng và sau đó gọi điện cho tôi nói cô T muốn mua 2 tủ để giày, 5 bộ bàn ghế inox, 2 bộ bàn ghế cafe với số tiền là 21.650.000 đồng. Tôi giao hàng đến nhà cô T nhưng cô H nói cô T không có ở nhà nên cô H đứng ra nhận hàng và ký nhận vào hóa đơn hứa sẽ thanh toán vào ngày 21/7. Vào tối ngay19/7 có người tự nhận là cô T gọi cho tôi và nói chỉ mua 2 tủ để giày còn những cái khác cô không mua, cô cũng đã trả cho cô H với số tiền 3.700.000 đồng và nói tôi bị cô H lừa. Tôi liền đến nhà cô H tìm hiểu nhưng không có cô ở nhà, gọi điện không bắt máy. Cô L và cô C không chịu trả tiền góp mỗi tuần cho tôi. Thưa Luật sư! Trường hợp này tôi phải giải quyết như thế nào? Cô H và những người liên quan có phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không ?
Mong nhận được sự tư vấn của Luật sư. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: M.T

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Xác Định H và những người liên quan có phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Theo quy định tại Điều 175 của BLHS 2015 SĐBS 2017:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp của chị, thì theo Điều 430 Bộ luật Dân sự số 2015 đây được xem là hợp đồng mua bán dân sự: Theo đó tại khoản 1 Điều 116 quy định về giao dịch dân sự: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự." Như vậy khoản 1 Điều 119 quy định về hình thức giao dịch dân sự: "Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể."

Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Do đó trường hợp bạn nêu trên hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức. Số tiền chiếm đã trên 4 triệu, và H có hành vi trốn tránh như đến nhà nhưng không có nhà và không nghe điện thoại mặc dù vậy trong trường hợp này ta phải xét thêm bên mua không trả tiền và không nghe điện thoại có lí do chính đáng hay không và thời gian chậm thanh toán là bao lâu.

- C và L không chịu thanh toán tiền trả góp mỗi tuần

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng mua trả chậm, trả dần phải tuân thủ các điều kiện sau:

Điều 453. Mua trả chậm, trả dần

1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy việc không thực hiện thanh toán tiền trả góp đúng thời hạn V và L đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà hai bên đã kí kết, tuy nhiên cần phải xem xét là trong hợp đồng đã có thỏa thuận về nghĩa vụ khi không thanh toán hay thanh toán chậm chưa. Nếu không có thỏa thuận gì và bạn chứng minh được là C và L dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn.

>> Xem thêm:  Mức phạt về tội làm nhục người khác như thế nào ? Phát tán video nhạy cảm bị phạt thế nào ?

4. Về tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có

Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có (sau đây gọi là tội tẩy rửa tiền) là một nỗi ám ảnh rất lớn đối với các nền kinh tế của nhiều quốc gia.

Tội tẩy rửa tiền đã xuất hiện ở nước ta với nhiều hình thức, thủ đoạn phạm tội tinh vi, nguy hiểm, đe dọa gây bất ổn cho các quan hệ xã hội, cho nền kinh tế và an ninh quốc gia. Do đó, việc đấu tranh phòng chống tội tẩy rửa tiền đã được Quốc hội cụ thể hoá tội danh tại Điều 324 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Để có một cái nhìn thống nhất, rõ ràng và chính xác hơn về tội phạm này, chúng tôi phân tích và bàn luận về cấu thành tội tẩy rửa tiền của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước (điển hình là Cộng hòa Pháp)

Điều 324. Tội rửa tiền

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ Sở để biết là do người khác phạm tội mà có;

b) Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở đbiết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c) Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở đbiết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối vi tiền, tài sản biết là có được từ việc chuyn dịch, chuyn nhượng, chuyn đi tiền, tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có.

1. Yếu tố khách quan tội rửa tiền

Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 BLHS năm 2015, thì một người phạm tội rửa tiền khi thực hiện một trong các hành vi sau đây:

- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có;

- Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

- Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

- Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có”.

Hành vi hợp pháp hoá tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm

Pháp luật Việt Nam cho rằng "hành vi hợp pháp hoá" tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm là hành vi phạm tội của tội tẩy rửa tiền. Vậy, chúng ta cần hiểu nội hàm của cụm từ "hành vi hợp pháp hóa" như thế nào?

Để hiểu được nội hàm "hành vi hợp pháp hóa" trên, chúng ta cần tìm hiểu các công đoạn để tẩy rửa tiền. Các chuyên gia trong lĩnh vực đấu tranh chống tẩy rửa tiền đều đồng ý chia quá trình tẩy rửa tiền thành ba công đoạn lớn:

- Công đoạn đầu tiên là đưa tiền vào lưu chuyển trong hệ thống kinh tế, tài chính. Công đoạn này có thể được thực hiện thông qua các hoạt động kinh tế hàng ngày hay bằng cách chuyển tiền ra nước ngoài;

- Công đoạn hai là quá trình tích tụ và quay vòng các khoản tiền sau khi chúng đã thâm nhập vào hệ thống kinh tế - tài chính chung. Công đoạn này được tiến hành thông qua các thủ đoạn giao dịch sao cho tiền được quay vòng nhiều lần để xoá đi các dấu vết tội phạm, cắt đi mối liên hệ với tổ chức tội phạm là chủ sở hữu của chúng;

- Công đoạn cuối cùng của một vụ tẩy rửa tiền được gọi là công đoạn "hội nhập", là lúc mà bọn tội phạm bắt đầu sử dụng tiền, tài sản đã được quay vòng nhiều lần đó để đầu tư một cách hợp pháp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Như vậy, tẩy rửa tiền được tiến hành thông qua nhiều công đoạn và một mình ai đó không thể tẩy rửa hết nguồn gốc bất chính của đồng tiền. Do đó, nội hàm của "hành vi hợp pháp hóa" sẽ mang tính thực tế hơn nếu ta hiểu được rằng hợp pháp hoá hay tẩy rửa tiền bao gồm tất cả các thao tác, hành vi tham gia, hỗ trợ vào quá trình hợp pháp hoá tiền.

Một nội dung nữa cần bàn là việc tẩy rửa tiền có thể được thực hiện thông qua những hành vi về bản chất là bất hợp pháp, như lập hoá đơn khống, hoá đơn giả, khai báo gian dối... Tuy nhiên, một số bọn tẩy rửa tiền lại thực hiện những hành vi tẩy rửa về bản chất hoàn toàn hợp pháp, các hành vi đó chỉ bất hợp pháp vì người thực hiện hành vi đó nhằm mục đích bất hợp pháp. Ví dụ trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng nói chung có nghĩa vụ phải ghi chép các sổ sách kế toán, giao và nhận tiền của khách hàng... Việc một ngân hàng nào đó ghi một khoản tiền vào tài khoản của khách hàng là hoàn toàn hợp pháp, nhưng hành vi đó sẽ trở nên bất hợp pháp nếu ngân hàng biết rằng tiền kia có nguồn gốc từ tội phạm mà vẫn nhận vào tài khoản.

Về tội tẩy rửa tiền, pháp luật của một số nước trên thế giới phân biệt giữa những hành vi về bản chất là bất hợp pháp và những hành vi về bản chất là hợp pháp. Ví dụ, pháp luật Pháp khép vào tội tẩy rửa tiền hai loại hành vi. Một mặt, pháp luật cho rằng tẩy rửa tiền là việc hỗ trợ cho người phạm tội tạo ra vẻ bề ngoài hợp pháp cho tiền và tài sản do phạm tội mà có. Như vậy, hành vi hỗ trợ này cũng bị trừng trị là hành vi tẩy rửa tiền. Loại hành vi thứ hai cũng là hành vi hỗ trợ cho những hoạt động đầu tư, chuyển đổi, chuyên chở... tiền và tài sản do phạm tội mà có. Loại hành vi này cũng bị khép vào tội tẩy rửa tiền.

Lưu ý thứ nhất, về yếu tố khách quan cấu thành tội tẩy rửa tiền, là hành vi của một người nhằm hợp pháp hoá tiền có nguồn gốc tội phạm. Vấn đề đặt ra là theo định nghĩa của Việt Nam, hành vi tẩy rửa tiền có phải chỉ bao gồm những hành vi chủ định hay cả những hành vi thụ động? Nói cách khác, một người biết rõ nguồn gốc tội phạm của một khoản tiền nào đó, hay biết được người khác đang tiến hành một hành vi tẩy rửa tiền mà không có hành động gì thì người đó có bị coi là phạm tội hay không?

Pháp luật Pháp quy định, hành vi không hành động đó là phạm tội, đặc biệt đối với những người có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động này. Ví dụ, một nhân viên hải quan cửa khẩu biết rằng chiếc xe kia có trở một va ly tiền của bọn buôn ma tuý. Thông thường nhân viên này có nghĩa vụ phải bắt giữ chiếc xe đó lại, khám xét và giữ tang vật. Nhưng, nếu không làm như vậy mà lại để cho xe tự nhiên đi qua thì nhân viên đó đã vi phạm pháp luật, coi như đã phạm tội tẩy rửa tiền. Như vậy, theo chúng tôi, pháp luật Việt Nam về tội tẩy rửa tiền cũng nên được hiểu hành vi không hành động có thể là phạm tội.

Lưu ý thứ hai, tẩy rửa tiền là các hành vi thông qua các hình thức nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác. Nhưng thực tế chúng ta có thể thấy phần lớn các hoạt động tẩy rửa tiền được thực hiện thông qua các giao dịch tài chính và các giao dịch mang tính kinh tế. Một lần nữa cho thấy quy định của Việt Nam có một phạm vi áp dụng rất rộng.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy có những hành vi tẩy rửa tiền không phải là những giao dịch tài chính hay kinh tế. Ví dụ như vai trò của các chuyên gia pháp luật trong quá trình tẩy rửa tiền, hỗ trợ việc tẩy rửa tiền. Đó là những người tham gia tích cực vào quá trình tẩy rửa tiền mà không hề thực hiện một giao dịch tài chính, hoạt động kinh tế hay ngân hàng nào cả.

Về điểm này, pháp luật Việt Nam không quy định rõ như trong pháp luật của một số nước trên thế giới, chẳng hạn như "tẩy rửa tiền là các hành vi thông qua các hình thức a, b gì đó và bất kỳ hình thức nào khác ". Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng pháp luật Việt Nam cũng cho phép truy tố và trừng trị những người tham gia vào tẩy rửa tiền không phải dưới các hình thức giao dịch kinh tế, tài chính như trình bày ở trên mà thông qua cơ chế đồng phạm. Ví dụ trường hợp của luật sư, luật sư làm tư vấn cho bọn tội phạm. Như vậy, coi như luật sư đã là đồng phạm với bọn tẩy rửa tiền.

Hành vi sử dụng tiền, tài sản đó để tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác

Như vậy, khi xét xử thẩm phán có thể tự do lựa chọn để trừng trị theo hai loại hành vi: "hành vi hợp pháp hóa" và "hành vi sử dụng". Ví dụ trường hợp một người sử dụng tiền có nguồn gốc từ buôn bán ma tuý để mở một quán giải khát, chúng ta có thể nói rằng người này đang thực hiện hành vi hợp pháp hoá tiền, đồng thời cũng có thể cho rằng anh ta đang sử dụng tiền có nguồn gốc tội phạm vào hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, phần thứ hai của quy định tại Điều 324 BLHS 2015 này cho phép trừng trị những người không tham gia vào quá trình tẩy rửa tiền nhưng sau này lại được hưởng khoản tiền đã được tẩy rửa.

Nhận xét tiếp theo của chúng tôi trong phần xác định các yếu tố khách quan cấu thành tội phạm là pháp luật Việt Nam nói đến cả tiền và tài sản. Để nói một cách chung hơn, trong pháp luật một số nước có quy định về các "sản phẩm" của tội phạm vì trong quá trình tiến hành tẩy rửa tiền, tiền được chuyển đổi hình thức liên tục: từ tiền mặt sang thành séc, thành tiền bút toán, ngân phiếu... để cuối cùng có thể trở thành một biệt thự đẹp đẽ, nếu cuối cùng người phạm tội quyết định bỏ tiền đầu tư mua bất động sản.

Chính vì lý do đó, pháp luật của nhiều nước đã dự liệu điều này và quy định cả về các "sản phẩm trực tiếp" cũng như các "sản phẩm gián tiếp" của tội phạm (gián tiếp nghĩa là các khoản tiền, tài sản đã được chuyển hoá thành sản phẩm khác). Nếu không quy định như vậy, chúng ta sẽ không thể truy tố tội phạm khi quá trình tẩy rửa tiền đã được tiến hành đến công đoạn thứ hai hay thứ ba. Công ước của Hội đồng châu Âu được thông qua năm 1990 tại Strasbourg đã định nghĩa, sản phẩm của tội phạm bao gồm tất cả những lợi ích kinh tế có được từ tội phạm đó.

2. Yếu tố chủ quan tội rửa tiền

Thực tế tiến hành điều tra một vụ tẩy rửa tiền, khi đã lần ra đầu mối cả đường dây tẩy rửa tiền để tìm ra được cả những người nằm ở khá xa trong chu trình tẩy rửa, khi điều tra viên đến hỏi thì mọi người đều có lời bao biện như nhau: "tôi không biết rằng, tiền này có nguồn gốc từ tội phạm!". Vậy, câu hỏi đặt ra là mức độ biết đến đâu thì được coi là có lỗi? Về vấn đề này, có lẽ chúng ta sẽ nghiên cứu các quy định trong pháp luật Pháp và của một số nước khác. Pháp luật Pháp đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng giảm nhẹ trách nhiệm phải chứng minh lỗi của người phạm tội. Xuất phát điểm của Pháp có khác với Việt Nam, ở chỗ mới đầu pháp luật chỉ quy định tội tẩy rửa tiền là việc hợp pháp hoá các khoản tiền có nguồn gốc từ buôn bán ma tuý. Mãi đến năm 1996, pháp luật Pháp mới quy định một loại tội mới, đó là tội tẩy rửa tiền có nguồn gốc từ tội phạm nói chung. Tuy nhiên, ngay cả khi đã có quy định mới này, các cơ quan điều tra vẫn gặp rất nhiều khó khăn vì phải chứng minh yếu tố lỗi của người phạm tội, chứng minh can phạm biết rõ tiền có nguồn gốc từ một tội phạm cụ thể nào đó mới kết tội tẩy rửa tiền được. Điều này có thể nói hầu như không thể chứng minh được, nhất là đối với những kẻ tẩy rửa tiền nằm ở những công đoạn cuối, hay những kẻ chuyên tẩy rửa các loại tiền do phạm tội mà có thì không thể biết các chi tiết của tội phạm.

Do vậy, cấu thành tội tẩy rửa tiền, Pháp vẫn giữ lại yếu tố lỗi nhưng đã giảm nghĩa vụ của các cơ quan điều tra trong việc chứng minh yếu tố lỗi của người phạm tội. Giờ đây, toà án chỉ cần chứng minh rằng bị cáo biết tiền mà mình sử dụng có nguồn gốc từ tội phạm nói chung, chứ không phải chứng minh cụ thể đó là tội nào.

Thông thường, để chứng minh một người biết rằng tiền có nguồn gốc tội phạm, toà chỉ việc chứng minh rằng người đó không thể không biết tiền đó là tiền bất chính. Để kết tội một người về tội tẩy rửa tiền, toà án phải thiết lập được tội phạm chính là tội gì (ví dụ như tội buôn lậu các chất ma tuý chẳng hạn), chứng minh người đó đã tiến hành hành vi nào để tẩy rửa tiền và cuối cùng chứng minh rằng, ngay cả khi không biết rằng tiền có nguồn gốc từ buôn bán ma tuý thì cũng phải biết rằng nó có nguồn gốc bất chính.

Một điều đương nhiên là những người bị tình nghi đã tiến hành tẩy rửa tiền không bao giờ tự thú nhận tội lỗi của mình. Do đó, để chứng minh lỗi cố ý của người bị tình nghi, thẩm phán dựa vào một loạt các yếu tố như sự suy đoán, nhân chứng, các tình tiết vụ việc như một hành vi bất bình thường, thái độ khả nghi của đối tượng hay trong trường hợp một người có khối tài sản lớn mà lại không chứng minh được nguồn gốc của những tài sản đó. Trên thực tế, có những trường hợp chỉ cần dựa vào một yếu tố duy nhất ta đã có đủ bằng chứng chứng minh được lỗi cố ý. Nhưng nói chung, các cơ quan điều tra phải thu thập rất nhiều yếu tố, rất nhiều bằng chứng để chứng minh lỗi của đối tượng. Theo quy định của pháp luật Pháp, nếu cơ quan điều tra chứng minh được rằng kẻ tẩy rửa tiền biết rõ tiền đó có nguồn gốc từ một tội phạm cụ thể nào đó, thì hắn có thể sẽ bị trừng trị nặng hơn, vì đây là một tình tiết tăng nặng. Ví dụ, một người bị kết tội tẩy rửa tiền nói chung có thể bị phạt tù 5 năm, một người bị kết tội buôn bán ma tuý "thông thường" bị phạt 10 năm tù giam. Nếu cơ quan điều tra chứng minh được rằng người phạm tội tẩy rửa tiền không những biết rằng tiền có nguồn gốc tội phạm mà còn biết rằng tiền đó có nguồn gốc chính xác từ buôn lậu ma tuý, thì người phạm tội tẩy rửa tiền kia có thể bị kết án 10 năm tù giam, tức là bằng hình phạt dành cho thủ phạm của tội phạm nguồn. Nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các tội có mức hình phạt tù giam từ 10 năm trở lên.

Để giải thích việc tăng nặng hình phạt này, các nhà lập pháp cho rằng đối với những loại tội phạm nguồn được coi là tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, những người tẩy rửa tiền có nguồn gốc từ các loại tội phạm đó cũng phải bị trừng trị với mức tương đương như tội phạm nguồn khi kẻ phạm tội tẩy rửa tiền biết được tiền mà mình tẩy rửa có nguồn gốc từ những tội phạm đó.

Một điểm nữa cần xem xét là thời điểm khi người ta nhận biết được rằng tiền có nguồn gốc từ tội phạm. Ví dụ, một thương gia có quan hệ thương mại với một người thường thanh toán bằng tiền mặt. Mới đầu anh ta không biết rằng tiền đó là tiền "bẩn". Phải mất một thời gian sau anh ta mới tự đặt ra câu hỏi và cuối cùng cho rằng, tiền đó là tiền có nguồn gốc từ tội phạm. Do đó, có thể nói rằng có người sau khi thực hiện hành vi tham gia vào tẩy rửa tiền rồi mới nhận ra rằng tiền mà mình đang sử dụng, giao dịch đó là tiền bất chính.

Pháp luật một số nước quy định rằng người tẩy rửa tiền chỉ bị trừng trị nếu vào thời điểm thực hiện hành vi được coi là tẩy rửa tiền, anh ta biết được tiền có nguồn gốc từ tội phạm. Pháp luật Pháp lại có quan điểm khác, kể cả khi hành vi tẩy rửa tiền đã được thực hiện rồi sau đó mới biết nguồn gốc của tiền thì người tẩy rửa đó có thể vẫn bị trừng trị. Pháp luật của Bỉ còn trừng trị những người hoạt động chuyên môn về tội tẩy rửa tiền do mất cảnh giác. Các chuyên gia này có nghĩa vụ phải cảnh giác, xác minh nguồn gốc các khoản tiền mà mình giao dịch hay xử lý. Như vậy, kể cả trong trường hợp những người này vô ý tẩy rửa tiền đó thì họ cũng bị pháp luật trừng trị (lỗi vô ý).

Như vậy, ta có thể thấy những quy định khác nhau trong pháp luật của các nước trên thế giới. Đối với những nước trừng trị cả tội tẩy rửa tiền do vô ý thì chỉ cần chứng minh có tội tẩy rửa tiền là đã có thể trừng trị người mắc lỗi vô ý hay thiếu cảnh giác đó rồi. Trong khi đó, đối với những nước quy định tội tẩy rửa tiền phải có lỗi cố ý, lỗi vô ý chỉ là một tình tiết thực tế trong vụ việc không đủ để cấu thành tội tẩy rửa tiền. Chúng tôi cho rằng, các nhà lập pháp và hoạt động thực tiễn của Việt Nam cần chú ý đến nội dung này. Theo đề xuất của chúng tôi, yếu tố lỗi trong tội tẩy rửa tiền gồm cả cố ý và vô ý.

3. Tội rửa tiền và một số tội phạm khác có đặc điểm giống nhau

Tội rửa tiền có thể dễ bị nhầm lẫn với một số tội khác khi xác định tội danh. Ví dụ việc dùng hoá đơn, chứng từ giả để tẩy rửa tiền cũng có thể bị ghép vào tội sử dụng chứng từ giả mạo.

Ngoài ra, còn có một số hành vi khác có thể cấu thành hoặc là tội tẩy rửa tiền, hoặc là một tội danh khác, như hành vi lừa đảo, đồng phạm với hành vi lừa đảo. Đặc biệt, hành vi che giấu tội phạm rất gần với tội tẩy rửa tiền vì một người che giấu các khoản tiền có nguồn gốc từ tội phạm đồng thời có thể bị quy tội che giấu tội phạm hay tội tẩy rửa tiền.

Khi có sự do dự trong việc định tội danh giữa tẩy rửa tiền và tội khác, chúng tôi thấy có ba trường hợp mà chúng ta phải ưu tiên định tội là tội tẩy rửa tiền, vì những lý do sau đây:

Một là, rửa tiền là một quá trình rất phức tạp, phải trải qua nhiều công đoạn, nhiều hành vi khác nhau và có nhiều người cùng tham gia vào quá trình này. Do đó, chúng ta nên định tội danh cho tất cả những người tham gia vào quá trình đó tội tẩy rửa tiền, thay vì định cho mỗi người một tội khác nhau (người thứ nhất tội sử dụng giấy tờ giả mạo, người thứ hai đồng phạm với tội sử dụng giấy tờ giả mạo, người thứ ba tội che giấu tội phạm...), chúng ta nên định cho họ cùng một tội tẩy rửa tiền giống nhau vì tất cả có cùng mục đích phạm tội giống nhau;

Hai là, trong quá trình điều tra về tội tẩy rửa tiền, chúng ta thường phải cần đến sự hỗ trợ của các nước khác trong việc trấn áp tội phạm. Tội tẩy rửa tiền vốn đã được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới, đã có nhiều công ước quốc tế trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận tội tẩy rửa tiền. Do vậy, tính thống nhất pháp lý và đường lối xử lý giữa các nước dễ được chấp nhận hơn.

Ba là, liên quan đến việc tổ chức bên trong mỗi quốc gia. Nếu chúng ta quy định tổng thể những hành vi đó là tội tẩy rửa tiền, chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi trong việc huy động các lực lượng chuyên ngành tham gia điều tra và đấu tranh chống lại loại tội phạm này. /.

(MINH KHUE LAW FIRM: sưu tầm & biên tập.)

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

5. Chưa chiếm đoạt được tài sản có bị phạt tù hay không ?

Thưa luật sư! Tôi có người bạn, làm trong 1 doanh nghiệp. Doanh nghiệp này kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng trên tổng đài nhắn tin. Mỗi tin nhắn đúng cú pháp được 3 nhà mạng (Viettel, Mobifone, Vinaphone) thu 15.000đ, trích lại cho doanh nghiệp khoảng 45%, tức là 6.750đ.
Trong quá trình làm việc, người bạn này cùng một số bạn trong công ty tổ chức phát tán tin nhắn rác và bị cơ quan điều tra công an bắt. Sau khoảng 6 tháng giam giữ, cơ quan điều tra số tiền "chiếm đoạt" là khoảng hơn 1 tỷ đồng và đề nghị truy tố theo điều 288, khoản 3, bộ luật hình sự.
Rất mong quý anh chị giúp đỡ phúc đáp! Xin chân thành cám ơn!

Luật sư tư vấn:

Quy định tại Điều 288 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng và máy tính được quy định như sau:

Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của Cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù t06 tháng đến 03 năm:

a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 117, 155, 156 và 326 của Bộ luật này;

b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;

c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông;

c) Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam;

g) Dn đến biểu tình.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi này được hiểu như sau:

Các yếu tố cấu thành tội phạm
- Chủ thể: chủ thể thường.
- Khách thể: xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
- Mặt khách quan:
Hành vi phạm tội được thể hiện ở một trong các dạng sau:
+ Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet (gọi chung là mạng) những thông tin trái pháp luật, thông tin trái pháp luật ở đây được hiểu là những thông tin vi phạm các điều cấm của pháp luật (như thông tin bôi xấu danh dự, nhân phẩm của người khác, các thông tin phản khoa học gây hoang mang và bức xúc trong dư luận…), hoặc vi phạm các chuẩn mực đạo đức và thuần phong mĩ tục của dân tộc.
+ Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó. Đây được hiểu là quy định mang tính chất bảo vệ quyền công dân, quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quyền bí mật đời tư, quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005. Đây là quyền của cá nhân, tổ chức trong việc định đoạt các thông tin về bí mật đời tư của cá nhân, các thông tin riêng của tổ chức mà họ là chủ sở hữu các thông tin đó. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng đây là những thông tin riêng hợp pháp thì chủ sở hữu của những thông tin đó mới được pháp luật bảo vệ. Theo cách hiểu thông thường thì đây là những dạng thông tin riêng của cá nhân, tổ chức phù hợp với quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức và thuần phong mĩ tục.
+ Các hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng. Đây là một quy định mở để truy cứu trách nhiệm hình sự những trường hợp người không có thẩm quyền quản lý, sử dụng, khai thác thông tin trên mạng nhưng vẫn sử dụng những thông tin đó.
Hậu quả pháp lý bắt buộc là phải gây thiệt hại nghiêm trọng, thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, có cân nhắc đến các thiệt hại phi vật chất như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các chính sách, đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của hoạt động các cơ quan, tổ chức
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản