Học giả Lê Gia giải nghĩa chi tiết hơn, theo đó “tố tụng” là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ “tố” là vạch tội; chữ “tụng” là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái.

Như vậy, xét về nguồn gổc, thuật ngữ “tố tụng” có thể hiểu là “việc thưa kiện ở toà án” như giải thích trong Từ điển tiếng Việt.

Từ điển luật học của Viện Khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp không giải thích thuật ngữ “tố tụng” là gì, chỉ giải thích các thuật ngữ: tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động. Theo hướng tiếp cận này, “tố tụng” được gắn với từng lĩnh vực cụ thể về hình sự, hành chính, dân sự, kinh tế, lao động... đó là trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại toà án.

Tố tụng cạnh tranh là thuật ngữ mới xuất hiện trong đời sống pháp lí ở Việt Nam,được sử dụng tại Luật cạnh tranh năm 2004 và tiếp tực ghi nhận tại Luật cạnh tranh năm 2018. Tố tụng cạnh tranh thực chất bao gồm thẩm quyền và thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, đó là một trong các nội dung cơ bản và quan trọng của pháp luật cạnh tranh ở các quốc gia trên thế giới.

Theo khoản 8 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2018 thì tố tụng cạnh tranh là hoạt động điều tra, xử lí vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật cạnh tranh.

Tố tụng cạnh tranh có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh.

Khác với các loại tố tụng khác, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh

Theo Luật cạnh tranh, vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh bị điều tra, xử lí theo quy định của Luật cạnh tranh, bao gồm vụ việc hạn chể cạnh tranh, vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tể và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh .(1)

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

Tố tụng cạnh tranh sẽ được áp dụng đối với những vụ việc đáp ứng hai điều kiện cần và đủ sau:

- Một là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh là điều kiện cần để xem xét một vụ việc có được coi là vụ việc cạnh tranh hay không. Các vụ việc không có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh bị loại trừ khỏi nội hàm của khái niệm tố tụng cạnh tranh. Tiêu chí “có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh” là tiền đề để loại bỏ một số hoạt động của cơ quan quản lí nhà nước về cạnh ưanh ra khỏi nội hàm của tố tụng cạnh tranh, như: hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong việc xem xét và quyết định cho hưởng miễn trừ đối với các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh; các hoạt động điều tra để xác định thị trường liên quan, xác định thị phần...

- Hai là bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định của Luật cạnh tranh.

Cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định của pháp luật là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh và cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh. . Các cơ quan này khi tiến hành tố tụng cạnh tranh được thực hiện bởi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Chủ tịch Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, thành viên Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, thành viên Hội đồng giấi quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh, thủ trưởng cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, điều tra viên vụ việc cạnh tranh, thư kí phiên điều trần. Dấu hiệu này cho phép phân biệt tố tụng cạnh tranh với Các hoạt động tố tụng khác được tiến hành bởi toà án hay cơ quan có thẩm quyền tương ứng (tố tụng hình sự, tố tụng hành chítỉh, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động..

Như vậy, vụ việc tuy có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng không được cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định của pháp luật cũng không thuộc vụ việc cạnh tranh. Một vụ việc khi hội đủ hai điều kiện nêu trên (có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh và bị cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lí theo Luật cạnh tranh) mới được coi là vụ việc cạnh tranh và mới được giải quyết theo tố tụng cạnh tranh.

Thứ hai, tố tụng cạnh tranh áp dụng cho các loại hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh có bản chất không giống nhau, đó là hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tể vâ hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Đặẹ điểm này thể hiện sự khác biệt của tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam so với tố tụng cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới. Pháp luật của nhiều quốc gia trện thể giới quy định tách bạch hoạt động tổ tụng liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giải quyết theo phương thức tố tụng toà án (thuộc bản chất tố tụng dân sự) chứ không thuộc tố tụng cạnh tranh như pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

Tuy nhiên, do bản chất của hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác nhau nên trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến các nhóm hành vi này không hoàn toàn giống nhau.

Thứ ba, tố tụng cạnh tranh được tiến hành bởi các cơ quan hành pháp.

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?

Tố tụng cạnh tranh được tiến hành bởi các cơ quan hành pháp (không được tiến hành bởi toà án), thông qua hoạt động của người tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Chủ tịch Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh ttanh, thành viên Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, thành viên Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh, thủ trưởng cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, điều tra viên vụ việc cạnh ưanh và thư kí phiên điều trần.

Những kết luận, quyết định được hình thành sau mỗi quá trình tố tụng cạnh tranh đều liên quan trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp, liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày trên thương trường nên cơ quan ban hành các quyết định này cần có vị trí độc lập trong hệ thống hành pháp. Trên thực tế, những cơ quan hành pháp này có phương thức tổ chức và hoạt động thiên hướng “tư pháp”.

Thứ tư, tố tụng cạnh tranh được áp dụng không nhất thiết phải dựa vào đơn khiếu nại của bên có liên quan mà có thể được thực hiện bởi quyết định hành chính của cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền.

Thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh ttanh được khởi đầu bàng quyết định điều tra của Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh đối với hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ựong đó hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế thường xâm phạm đến lợi ích của tập thể, xã hội, xâm phạm tới cấu trúc thị trường. Ngoài hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được thụ lí, cơ sở pháp lí để Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh quyết định điều tra còn có thể là hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh mà ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tự phát hiện. Bởi vậy, khi ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm Pháp luật cạnh ttanh, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh có thể tự mình quyết định điều tra mà không cần có đơn khiếu nại của bên liên quan.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Nhiệm vụ, quyền hạn thủ trưởng, cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ?