Khái niệm tố tụng cạnh tranh

Theo khoản 8 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2018 thì tố tụng cạnh tranh là hoạt động điều tra, xử lí vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật cạnh tranh

Tố tụng cạnh tranh có những đặc trưng cơ bản nào?

Thứ nhất, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh

Khác với các loại tố tụng khác, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh

Theo Luật cạnh tranh, vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh bị điều tra, xử lí theo quy định của Luật cạnh tranh, bao gồm vụ việc hạn chế cạnh tranh, vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.

tố tụng cạnh tranh được áp dụng đối với những vụ việc đáp ứng hai điều kiện cần và đủ sau:

- Một là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh là điều kiện cần để xem xét một vụ việc có được coi là vụ việc cạnh tranh hay không. Các vụ việc không có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh bị loại trừ khỏi nội hàm của khái niệm tố tụng cạnh tranh. Tiêu chí " có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh" là tiền đề để loại bỏ một số hoạt động của cơ quan quản lí nhà nước về cạnh tranh ra khỏi nội hàm của tố tụng cạnh tranh, như hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong việc xem xét và quyết định cho hưởng miễn trừ đối với các hành vi thảo thuận hạn chế cạnh tranh, các hoạt động điều tra để xác định thị trường liên quan, xác định thị phần,...

- Hai là, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định của Luật cạnh tranh.

Cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định của pháp luật là các cơ quan cso thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại xử lí vụ việc cạnh tranh và cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh. Các cơ quan này khi tiến hành tố tụng cạnh tranh được thực hiện bởi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Chủ tịch Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, thành viên Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh, thành viên Hội đồng giải quyết khieesiu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh.

Như vậy, vụ việc tuy có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng không được cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định của pháp luật cũng không thuộc vụ việc cạnh tranh. Một vụ việc khi hỏi đủ cả hai điều kiện nêu trên (có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh và bị cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lí theo Luật cạnh tranh và bị cơ quan cso thẩm quyền điều tra, xử lí theo Luật cạnh tranh) mới được coi là vụ việc cạnh tranh và mới được giải quyết theo tố tụng cạnh tranh.

Thứ hai, tố tụng cạnh tranh áp dụng cho các loại hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh có bản chất không giống nhau, đó là hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt của tố tụng cạnh tranh ở Việt nam so với tố tụng cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới. Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới quy định tách bạch hoạt động tố tụng liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giải quyết theo phương thức tố tụng tòa án.

Thứ ba, tố tụng cạnh tranh được tiến hành bởi các cơ quan hành pháp.

Thứ tư, tố tụng cạnh tranh được áp dụng không nhất thiết phải dựa vào đơn khiếu nại của bên có liên quan mà có thể được thực hiện bởi quyết định hành chính của cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền.

Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng cạnh tranh

Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng cạnh tranh là những tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ tiến hành hoặc tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, bao gồm: cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh, người tiến hành tố tụng cạnh tranh và người tham gia tố tụng cạnh tranh.

Thủ tục tố tụng cạnh tranh

Thủ tụng tố tụng cạnh tranh là trình tự (thứ tự) các giai đoạn (các bước) mà cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện những hoạt động nhất định để giải quyết, xử lí vụ việc cạnh tranh

Thủ tục tố tụng cạnh tranh bao gồm ba giai đoạn cơ bản, đó là: điều tra vụ việc cạnh tranh, xử lí vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh.

- Điều tra vụ việc cạnh tranh là giai đoạn khởi đầu trong tố tụng cạnh tranh, theo đó, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh áp dụng các nghiệp vụ cần thiết để xác định hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh và đối tượng thực hiện hành vi làm cơ sở cho việc xử lí vụ việc.

Điều tra vụ việc cạnh tranh được khởi đầu bằng quyết định điều tra (dựa trên thông tin về hành vi vi phạm hoặc khiếu nại vụ việc cạnh tranh) và kết thúc bằng đình chỉ điều tra hoặc bằng báo cáo, kết luận điều tra.

- Xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm: xử lí vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, xử lí vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh

Xử lí vi phạm pháp luật là xem xét, quyết định áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lí đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lí được hiểu là hậu quả bất lợi mà chủ thể pháp lí phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Trách nhiệm pháp lí bao gồm: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỉ luật.

Hình thức xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh là các hình thức trách nhiệm pháp lí áp dụng đối với doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Các chủ thể kinh doanh, hiệp hội ngành nghề khi vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranh, tuỳ thuộc tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm có thể bị áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lí, như: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh khái niệm trách nhiệm pháp lí, trong luật học còn sử dụng phổ biến các hình thức chế tài. Chế tài là một bộ phận cấu thành của quy phạm pháp luật, xác định các hình thức trách nhiệm pháp lí khi có hành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được ghi trong phần quy định và giả định của quy phạm pháp luật. Căn cứ vào tính chất của các nhóm quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh mà chế tài lại bao gồm nhiều hình thức, như: chế tài hành chính, chế tài dân sự, chế tài hình sự... Bởi vậy, tương ứng với các hình thức trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh, hiệp hội ngành nghề vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranh, đó là các chế tài hành chính, chế tài dân sự hay chế tài hình sự.

Liên quan đến các hình thức xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh, mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới có những cách tiếp cận khác nhau. Các nước theo hệ thống Common Law (Luật Anh-Mỹ) quan niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại đến lợi ích công cộng nói chung nên chế tài áp dụng bao gồm cả chế tài dân sự, hành chính và hình sự. Các nước theo hệ thống Civil Law (Luật châu Âu lục địa) lại quan niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh hoặc khách hàng cụ thể (pháp luật cạnh tranh không lành mạnh được xếp vào luật tư) nên chế tài áp dụng chủ yếu là các chế tài dân sự, như: bồi thường thiệt hại, buộc cải chính.

Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam xem xét hành vi cạnh tranh không lành mạnh không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh doanh và của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến cả lợi ích của Nhà nước(1). Do đó, bên cạnh những chế tài dân sự như bồi thường thiệt hại (Điều 6 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP) còn có chế tài hành chính như phạt cảnh cáo, phạt tiền và cả các chế tài hình sự.

Các chế tài được các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh, hiệp hội ngành nghề vi phạm pháp luật cạnh tranh chủ yếu là các chế tài hành chính. Chế tài dân sự và chế tài hình sự được toà án có thẩm quyền áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc tố tụng hình sự khi bên bị hại yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại hoặc cơ quan có thẩm quyên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bên vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Theo pháp luật cạnh tranh, các hình thức xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh được các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh áp dụng, bao gồm: xử phạt chính, xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

- Chính sách khoan hồng thường được chú trọng trong xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh ờ các nước trôn thế giới, vấn đề này chưa được quy trong Luật cạnh tranh năm 2004 nhưng lại được coi là điểm mới của Luật cạnh tranh 2018 khi Luật cạnh tranh năm 2018 đã dành một điều luật để qúy định cụ thể về chính sách khoan hồng.

- Theo Điều 112 Luật cạnh tranh năm 2018, doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện, điều tra và xử lí hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm quy định tại Điều 12 của Luật cạnh tranh được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng.

Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định việc miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng.

- Việc miễn hoặc giảm mức xử phạt nêu trên được thực hiện trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Đã hoặc đang tham gia với vai trò là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 11 của Luật này;

- Tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra;

- Khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ các thông tin, chứng cứ có được về hành vi vi phạm, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lí hành vi vi phạm;

- Hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình điều ưa và xử lí hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, Luật cạnh tranh năm 2018 cũng quy định về việc miễn hoặc giảm mức xử phạt không áp dụng đối với doanh nghiệp có vai trò ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận.

Ngoài ra, chính sách khoan hồng cũng áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hường khoan hồng đến ủy ban Cạnh tranh Quốc gia khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên.

+ Căn cứ xác định doanh nghiệp được hưởng khoan hồng, bao gồm:

- Thứ tự khai báo;

Thời điểm khai báo;

- Mức độ trung thực và giá trị của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp.

+ Việc miễn, giảm mức phạt tiền được thực hiện như sau:

- Doanh nghiệp đầu tiên có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện nêu trên (quy định tại khoản 3 Điều 112 Luật cạnh tranh năm 2018) được miễn 100% mức phạt tiền;

- Doanh nghiệp thứ hai và thứ ba có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện nêu trên (quy định tại khoản 3 Điều 112 Luật cạnh tranh năm 2018) lần lượt được giảm 60% và 40% mức phạt tiền.