Hỏi: Khẳng định sau đây đúng hay sai: "Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015 hoàn thành từ thời điểm người phạm tội chiếm đoạt được tài sản ?" giải thích tại sao?
Đáp:
- Khẳng định sai. Bởi vì:
Khoản 1 Điều 169 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể.
Xét về đặc điểm cấu trúc thì tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, do vậy tội phạm được hoàn thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin và chiếm đoạt tài sản. Việc chiếm đoạt được tài sản không có ý nghĩa trong xác định giai đoạn thực hiện tội phạm mà có ý nghĩa trong xem xét trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý trên như sau:
1. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1.1. Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là gì?
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hay còn được gọi là bắt cóc tống tiền là hành vi bắt giữ con người trái pháp luật để làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản khác có giá trị tương đương tiền thì mới thả người đang bị bắt giữ.
Bắt người làm con tin là việc bắt và giữ lại trái pháp luật để buộc người muốn chuộc (có thể là người thân,...) phải bảo đảm thực hiện một lời hứa nhằm thỏa mãn yêu cầu của người bắt và mục đích bắt người làm con tin là để chiếm đoạt tài sản, nhằm buộc người muốn chuộc phải giao ra tài sản hoặc một khoản tiền thì đây chính là hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Nếu bắt cóc nhằm mục đích khác thì không phải là bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể mà người có hành vi bắt cóc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng (ví dụ như Điều 301 về Tội bắt cóc con tin,...).
1.2. Các yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
a. Chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm được xác định như sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng (khoản 2), tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3 và khoản 4) về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tức là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là bắt cóc chiếm đoạt tài sản khá đa dạng. Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì cần lưu ý về độ tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết định khung hình phạt.
b. Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và quan hệ nhân thân. Tức là, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản xâm phạm đồng thời cùng một lúc đến hai quan hệ xã hội là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Nhưng quan hệ nhân thân là khách thể bị xâm phạm trước, thông qua việc xâm phạm đến nhân thân thì người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản, nếu không xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản được.
Do tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản xâm phạm cùng một lúc đến hai khách thể nên trong một vụ án bắt cóc người nhằm chiếm đoạt tài sản có thể có một hay nhiều người bị hại. Trong đó, có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản; có người bị hại khác chỉ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, thân thể, nhân phẩm, danh dự; và cũng có người bị hại vừa bị xâm phạm đến tài sản, vừa bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, thân thể, danh dự, nhân phẩm.
c. Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu như sau:
- Xảy ra hành vi bắt giữ người khác làm con tin, hành vi này được hiểu là hành vi của người phạm tội thực hiện việc bắt giữ người trái pháp luật nhằm tạo ra điều kiện gây áp lực, buộc người bị hại phải giao ra tài sản bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để khống chế để bắt giữ người; dùng thủ đoạn dụ dỗ, lừa dối để bắt giữ người, dùng thuốc gây mê để bắt giữ người,...
- Đối tượng bị bắt cóc có thể là trẻ em, người lớn. Thông thường, người bị bắt cóc phải là người có quan hệ thân thích với người bị hại - người mà người phạm tội dự định đưa ra yêu cầu trao đổi bằng tài sản để chiếm đoạt. Mối quan hệ giữa đối tượng bị bắt cóc và người bị hại trong vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có thể là: quan hệ huyết thống (như cha, mẹ, con, anh, chị, em hoặc quan hệ hôn nhân (vợ chồng) hoặc quan hệ tình cảm, xã hội thân thiết khác (ông, bà, cha nuôi, mẹ nuôi, người yêu, bạn bè, ...).
- Có hành vi đe dọa, gây áp lực cho người thân thích của người bị bắt giữ trái pháp luật để người này giao tài sản để đổi lấy người bị bắt giữ. Tức là, sau khi thực hiện xong hành vi bắt cóc thì người phạm tội thực hiện việc gây sức ép về mặt tinh thần đối với người bị hại bằng việc gây tổn hạn đến tính mạng, sức khỏe của người bị bắt giữ nhằm buộc người bị hại phải giao một số tài sản để đổi lấy sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, đảm bảo về nhân phẩm, sự tự do của người bị bắt cóc. Hình thức liên hệ giữa người phạm tội và người bị hại có thể là thông báo qua điện thoại, viết thư, nhờ người khác thông báo hộ, ...
Ví dụ: Hai anh A và anh B biết nhà chị C giàu có nên đã lập kế hoạch để bắt cóc chị C với mục đích là tống tiền. Sau khi bắt cóc chị C, hai người A và B bắt chị C gọi điện về nhà với nội dung là phải đưa cho chúng 500 triệu thì chúng mới thả chị C ra. Hai người A và B còn đánh đập chị C và quay video lại với mục đích gửi cho nhà chị C để gây áp lực về thời gian đối với gia đình chị C. Như vậy, hành vi của hai người A và B trong trường hợp này đã cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Thời điểm tội phạm này hoàn thành được tính kể từ lúc người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin với mục đích để chiếm đoạt tài sản để đòi chuộc bằng tài sản. Người chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
- Hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tức là, việc chiếm đoạt tài sản có được thực hiện trót lọt hay không, người phạm tội có nhận được tài sản hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định có cấu thành nên tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hay không. Chỉ cần người phạm tội đã có ý thức chiếm đoạt tài sản và đã thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm đạt được mục đích đó thì được coi là tội phạm đã hoàn thành.
d. Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý.
- Mục đích của tội phạm là nhằm chiếm đoạt tài sản. Đây là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các tội khác có hành vi bắt cóc người khác. Nếu bắt cóc người khác nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mà với mục đích khác thì hành vi này không được coi là hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một số tội tương đương như: Tội bắt cóc con tin được quy định tại Điều 301 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hoặc Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2. Xác đinh thời điểm hoàn thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản?
Thời điểm hoàn thành của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được tính từ thời điểm người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác mà không đặt ra vấn đề người thực hiện hành vi phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.
Bên cạnh đó, trường hợp người phạm tội mới chỉ có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện để tiến hành bắt cóc người khác hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội (căn cứ vào khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).
Theo đó, câu khẳng định "Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định hoàn thành khi người phạm tội chiếm được tài sản" là khẳng định sai.
3. Hình phạt đối với người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Hình phạt đối với người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hậu quả của hành vi mà người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ phải chịu hình phạt thích đáng cho hành vi phạm tội của mình.
- Theo đó, người phạm tội thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản và không thuộc vào trường hợp tăng nặng thì sẽ phải chịu hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (theo khoản 1 Điều 169). Đây là cấu thành cơ bản đối với tội phạm này và hành vi trong trường hợp này thuộc loại tội nghiêm trọng.
- Khi người phạm tội bắt cóc người khác với mục đích là chiếm đoạt tài sản và thuộc một trong các trường hợp tăng nặng dưới đây thì bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn từ 05 năm đến 12 năm:
+ Phạm tội có tổ chức;
+ Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
+ Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
+ Đối với người dưới 16 tuổi;
+ Phạm tội đối với 02 người trở lên;
+ Tài sản chiếm đoạt được có trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Hành vi phạm tội gây ra thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 % đến 30%;
+ Hành vi phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Đối tượng phạm tội là người tái phạm nguy hiểm.
- Khi tiến hành thực hiện tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và thuộc một trong các trường hợp tăng nặng thì người phạm tội bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm khi:
+ Tài sản chiếm đoạt được có trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Hành vi phạm tội gây ra hậu quả là để lại thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Người phạm tội thực hiện hành vi bắt cóc người khác nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi thuộc vào các trường hợp:
+ Tài sản bị chiếm đoạt có trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên;
+ Hành vi phạm tội dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là làm chết người;
+ Hậu quả của hành vi bắt cóc người khác nhằm chiếm đoạt tài sản rất nặng nề là gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
Đối với trường hợp người chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể là bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Ngoài việc bị áp dụng hình phạt chính trong trường hợp phạm tội này là tù có thời hạn, tù chung thân, người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản còn có thể bị áp dụng hình pháp bổ sung. Các hình phạt bổ sung có thể được áp dụng bao gồm: bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Mọi vướng mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tiếp thông qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng!