1. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự

Điều 169, luật hình sự 2015 quy định tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản:
Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

PHÂN TÍCH TỘI DANH BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT:

Một người bắt giữ người nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản như trường hợp nêu trên bị coi là phạm tội bắt cóc người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 169 Bộ Luật Hình sự 2015

Theo Điều 169 BLHS, người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản phải có đồng thời hai hành vi: bắt cóc con tin và đe dọa chủ tài sản để chiếm đoạt tại sản.

Hành vi bắt cóc là hành vi bắt giữ người trái phép. Người bị bắt giữ có thể là trẻ em hoặc là người lớn có quan hệ tình cảm thân thiết với chủ tài sản. Hành vi bắt cóc được thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản. Nếu việc bắt cóc không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mà nhằm vào một mục đích khác thì hành vi bắt cóc không cấu thành tội này. Ví dụ, nếu sự việc chỉ dừng lại ở việc bắt giữ con gái của A mà không có hành vi đòi tiền chuộc của B thì không cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà có thể là hành vi khách quan của tội bắt, giam, giữ người trái pháp luật.

Để đạt được mục đích chiếm đoạt người phạm tội có hành vi tiếp theo hành vi bắt cóc con tin là hành vi đe dọa người thân của con tin. Hành vi đe dọa ở đây là hành vi đe dọa dùng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của con tin trong trường hợp người đe dọa không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Với sự đe dọa này, người phạm tội có thể tạo ra tâm lý lo sợ cho người bị đe dọa, buộc họ phải thỏa mãn yêu cầu giao nộp tài sản nếu muốn tính mạng, sức khỏe của con tin được an toàn.

Hành vi của tội phạm đồng thời xâm phạm đến quyền tự do thân thể của “con tin”, đồng thời qua đó xâm phạm đến sự tự do ý chí và quyền sở hữu tài sản.
Người phạm tội là bất kể người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật (từ 16 tuổi trở lên). Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội này có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu gây hậu quả không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Hành vi của người phạm tội được thực hiện với lỗi cố ý, bởi mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi là nhằm buộc chủ tài sản phải giao nộp tài sản và chiếm đoạt tài sản đó.

Khung hình phạt cơ bản đối với tội bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Người phạm tội trong trường hợp có tình tiết tăng nặng có thể bị phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng; tịch thu tài sản, quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 đến 05 năm.

Đối chiếu với Điều 134 BHHS, B có thể bị xử phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân (khoản 4). Ngoài ra, B còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

2. Bắt cóc con ruột có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?

Xin chào luật sư! Lời đầu tiên cho em gửi lời chúc sức khỏe chân thành nhất. Kính mong luật sư tư vấn giúp em về một số vấn đề pháp luật. Năm 2013 em lấy vợ nhưng không có đăng ký kết hôn. Năm 2014 vợ em có sinh 1 bé gái sau đó em đi làm giấy khai sinh cho con có cả tên em và vợ.
Năm 2015 vì mẫu thuẫn gia đinh vợ chồng em chia tay nhưng vợ em đòi nuôi con nên đã mang bé về ngoại nuôi. Luật sư cho em hỏi nếu em ra bắt cóc con em rồi bỏ đi 1 nơi khác sinh sống thì em sẽ bị khép vào tội gì? Điều bao nhiêu thuộc bộ luật gì?
Em xin chân thành cám ơn!

Bắt cóc con ruột có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Nam, nữ “chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, về mặt pháp luật, bạn và mẹ của con bạn không được coi là vợ chồng.

Dù không phải là vợ chồng nhưng “quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định … về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con” theo quy định của Điều 15. Theo đó, “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” (khoản 3 Điều 81).

Như vậy, trường hợp của bạn, con bạn dưới 36 tháng tuổi, theo quy định trên nếu vợ bạn có đủ điều kiện để chăm sóc con thì vợ bạn sẽ có quyền nuôi con. Bạn không được phép bắt cóc hay đưa con đi ra khỏi chỗ ở hiện tại nếu không được phép của vợ bạn. Ngoài ra, bạn có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

Theo đó bạn chỉ được thăm nom, chăm sóc con, nếu bạn có hành vi bắt cóc con đi một nơi khác sinh sống, không có sự đồng ý của vợ và vợ bạn tố cáo hành vi đó, rất có thể bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt người dưới 01 tuổi tại Điều 153 Bộ Luật hình sự 2015

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cám ơn bạn đã lựa chọn và tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

3. Bất cập trong áp dụng các quy định về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Vừa qua, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015) đã được Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, việc sửa đổi này chưa bao quát hết được toàn bộ nội dung các điều, khoản trong BLHS. Vì vậy, có những vấn đề, trong đó có các quy định về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần được nghiên cứu thêm để có thể sửa đổi, bổ sung trong lần sửa đổi toàn diện sau.

1. Quy định của pháp luật về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Những quy định nói trên về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là cơ sở pháp lý cho công cuộc đấu tranh phòng và chống các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân, nhất là khi các tội xâm phạm sở hữu có xu hướng gia tăng, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản diễn ra ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Việc ghi nhận Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản còn có ý nghĩa giáo dục mọi tầng lớp nhân dân và răn đe đối với người có ý định phạm tội này, bởi lẽ những người phạm tội này chủ yếu vì mục đích kiếm tiền không phải từ sức lao động của mình. Như vậy, việc ghi nhận Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong BLHS có ý nghĩa giáo dục về tư tưởng, hành vi, lối sống, nhân cách con người, hướng đến cái thiện, xoá bỏ cái ác. Ngoài ra, nó còn góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực của Đảng và Nhà nước ta là: “tiếp tục củng cố và tăng cường hoạt động tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước trong thời kỳ mới, phải mở rộng quan hệ quốc tế về tương trợ tư pháp, về phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội” như Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khoá VII đã nêu.

Bất cập trong áp dụng các quy định về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

2. Những vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện các quy định về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Hiện nay, các tội xâm phạm sở hữu nói chung, trong đó có tội phạm về bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản diễn ra hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng. Nhưng việc áp dụng các quy định của BLHS để điều tra, truy tố, xét xử về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản còn gặp nhiều bất cập do nhận thức và sự áp dụng không thống nhất các quy định của pháp luật. Điều này làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bên cạnh đó, những quy định của BLHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã bộc lộ những nhược điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh có hiệu quả với tình trạng phạm tội này trên thực tiễn. Cụ thể:

Thứ nhất, theo Từ điển tiếng Việt, “bắt cóc là hành vi bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”1. Vậy, hành vi giữ người nhưng không đem giấu đi mà chỉ dùng để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản có phải là hành vi phạm tội này không? Ví dụ: Nguyễn Văn A vào nhà chị V, thấy con gái của chị V đang ngồi học trong nhà. A chốt cửa lại. Khi chị V về, A không cho con gái chị V ra mở cửa mà uy hiếp tinh thần, yêu cầu chị V phải nộp cho A 50 triệu đồng mới thả con gái chị. Như vậy, A đã thực hiện hành vi bắt giữ con gái chị V và yêu cầu tiền chuộc. Nhưng địa điểm bắt giữ lại chính tại nhà người bị hại. Về vấn đề này, nếu chiếu theo nghĩa đen của từ “bắt cóc” thì A không phạm Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, do A không giấu cháu bé đi; mà hành vi của A chỉ cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản. Nhưng lại có quan điểm khẳng định hành vi của A đã cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, vì A đã thực hiện hành vi bắt giữ người nhằm chiếm đoạt tài sản. Theo chúng tôi, chỉ cần người phạm tội bắt, giữ người nhằm chiếm đoạt tài sản là đã phạm tội - không phải Tội cưỡng đoạt tài sản. Tuy nhiên, nếu gọi là “bắt cóc” cũng chưa chuẩn. Vì vậy, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, tên Điều 134 cần được sửa thành: Tội bắt, giữ người nhằm chiếm đoạt tài sản. Khoản 1 Điều 134 BLHS nên được sửa là: Người nào bắt, giữ người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Thứ hai, hiện nay, pháp luật hình sự không quy định về thời gian giam giữ người bị hại bao lâu thì người bắt cóc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Điều này đã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến những quan điểm áp dụng pháp luật không thống nhất. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu có hành vi bắt và giam, giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể truy cứu TNHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bất kể thời gian giam, giữ là bao lâu. Quan điểm thứ hai lại coi nếu thời gian giam giữ con tin không nhiều, chẳng hạn như chỉ vài phút, thì không thể truy cứu TNHS về tội này mà phải truy cứu TNHS về Tội cưỡng đoạt tài sản. Theo chúng tôi, cứ có hành vi giam, giữ, không phụ thuộc bao lâu, thì có thể truy cứu TNHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, vì mục đích của người phạm tội là bắt, giữ người để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, vấn đề này cần được khẳng định rõ ràng trong BLHS theo hướng sau: Người nào có hành vi bắt, giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản không phụ thuộc vào thời gian giam giữ bao lâu thì...

Thứ ba, thực tiễn xét xử cho thấy có những vụ án người phạm tội đã sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực làm cho người bị bắt cóc lâm vào tình trạng không thể chống cự được để bắt đi nhằm yêu cầu người thân của họ đưa tiền chuộc thì có nên truy cứu TNHS Tội cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản không? Có ý kiến đề nghị truy cứu TNHS thành hai tội, vì hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn đủ các dấu hiệu của mặt khách quan Tội cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Ý kiến khác lại cho rằng, hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội chỉ nhằm mục đích bắt cóc con tin nên nó là tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì thế chỉ có thể truy cứu TNHS theo tội này.

Chúng tôi đồng tình với ý kiến thứ hai. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có nên coi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực là tình tiết định khung tăng nặng không? Rõ ràng hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để bắt, giữ người là hành vi nguy hiểm hơn nhiều so với hành vi bắt, giữ người không dùng vũ lực hoặc không đe dọa dùng vũ lực nên nếu truy cứu TNHS như nhau sẽ không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm và không hợp lý. Vì vậy, theo chúng tôi, cần thiết phải coi tình tiết “sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực” là tình tiết định khung tăng nặng.

Thứ tư, pháp luật hình sự hiện hành vẫn chưa quy định về hành vi bắt, giữ người thân trong gia đình là tình tiết định khung tăng nặng. Có thể nói, đây là điều không hợp lý bởi trên thực tế có nhiều vụ án, người phạm tội bắt cóc người thân của mình nhằm đòi tiền chuộc. Qua nghiên cứu ngẫu nhiên 50 bản án hình sự sơ thẩm2, chúng tôi thấy có đến 13 bản án mà người phạm Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản bắt, giữ chính người thân của mình nhằm đòi tiền chuộc. Người phạm tội bắt, giữ những người thân trong gia đình thì thủ đoạn thực hiện tội phạm sẽ dễ dàng hơn. Hơn nữa, những vụ án này luôn gây bức xúc mạnh mẽ trong dư luận xã hội, phá hoại truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, cần phải xử lý nghiêm minh. Do vậy, theo chúng tôi, trong tội này, phải quy định bắt, giữ người thân trong gia đình là tình tiết định khung tăng nặng để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

Thứ năm,quy định “sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” là tình tiết định khung tăng nặng. Vướng mắc nảy sinh ở chỗ là trường hợp người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản sử dụng vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ có bị truy cứu TNHS về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự hay không?

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

4. Vụ bắt cóc nữ sinh tại Huế : kẻ thủ ác phạm tội gì ?

Sau 12h căng thẳng, cuối cùng lực lượng công an, quân đội thành phố Huế đã giải cứu được nữ sinh lớp 10 bị một thanh niên dùng súng AK bắt cóc, khống chế trong nhà nghỉ tối 16-1-2010. Trước đó, người này đã có ý định dùng súng để sát hại người yêu nhưng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Kẻ thủ ác có khả năng bị truy tố hình sự cùng lúc nhiều tội danh.

Bị trả lễ, đòi giết người yêu không được dẫn đến bắt con tin

Theo Vietnamnet và Pháp luật TP.HCM, đối tượng Nguyễn Văn Minh (sinh 1988), quê ở Quảng Bình, là quân nhân. Minh quen một cô gái tên H., ở Phường An Tây, TP Huế. Hai người đã làm lễ ăn hỏi vào tháng 6-2009.

Sự việc bắt đầu căng thẳng khi vào tháng 9-2009, gia đình cô H. đem trả lại lễ vật ăn hỏi của Minh nhưng không giải thích lý do.

Ngày 16-1-2010, Minh vào Huế tìm gặp người yêu. Khi đi, Minh mang theo một khẩu AK và “đòi giết người yêu”. Gia đình cô gái đã phát hiện và phải nhờ công an phường can thiệp. Khi cán bộ công an phường đến nói chuyện, Minh đã chĩa súng xuống đất bắn 4, 5 phát đạn rồi khống chế một người lái xe ôm chạy đến nhà nghỉ Như Phước. Tại đây, Minh đã khống chế một cô gái đang là học sinh lớp10, lôi lên tầng 3 của nhà nghỉ và cố thủ bên trong suốt 12 tiếng.

Ngay khi biết tin, mẹ và anh trai của Minh đã đến hiện trường để thuyết phục nhưng đối tượng này chỉ một mực đòi gặp người yêu cũ. Sau hơn 13 giờ đồng hồ, dù gia đình, bạn bè, đồng đội ra sức khuyên can nhưng Minh vẫn khăng khăng chống cự.

Trước sự ngoan cố của Minh, các lực lượng đặc nhiệm đã phải dùng đến biện pháp mạnh.

Lúc 5 giờ sáng ngày 17-1-2010, các lực lượng an ninh đã tiếp cận căn phòng trú ẩn của đối tượng cùng con tin (là cô gái lớp 10). Các lực lượng trinh sát, công an đã sử dụng súng hơi cay để khống chế đối tượng. Ngay sau khi bị bắt giữ, Minh cùng con tin được đưa đi cấp cứu.

Hiện các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra vụ việc.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162


Dấu hiệu phạm nhiều tội

Với những diễn biến như vậy, đối tượng Minh đang đứng trước khả năng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự cùng lúc nhiều tội danh.

Trước hết, với việc đem súng tới nhà người yêu định giết hoặc hăm dọa giết chị H., tùy theo kết quả điều tra, nhiều khả năng Minh sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội “giết người” ( dù chưa giết được) hoặc nhẹ hơn là tội “đe dọa giết người”. Nếu thực sự Minh có ý định giết chị H., và hậu quả chưa xảy ra là do gia đình chị H. kịp thời phát hiện và nhờ công an phường xuống giải vây thì xem như Minh hành vi của Minh đã đủ yếu tố để cấu thành tội “giết người”.

Còn nếu Minh mang súng tới nhà chị H. chỉ để đe dọa giết cho thỏa cơn tức giận thì hành vi của Minh cũng đã thể hiện về việc “có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đ dọa này sẽ được thực hiện”. Đây chính là yếu tố để cấu thành tội “đe dọa giết người” – theo qui định tại Bộ luật hình sự.

Tiếp đó, với việc khống chế, bắt một nữ sinh lớp 10 làm con tin, rõ ràng Minh đã có hành vi bắt cóc con tin. Tuy nhiên, theo Bộ luật hình sự lại không có qui định về tội bắt cóc mà chỉ có tội “bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Dấu hiệu của tội này là phải nhằm mục đích “chiếm đoạt tài sản”. Ở đây, Minh bắt có cô nữ sinh không vì mục đích đó, nên không thể truy tố Minh về tội này được. Theo chúng tôi, nhiều khả năng sẽ bị truy tố về tội “bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”.

Ngoài ra, với việc đem theo một khẩu súng AK cùng hàng chục viên đạn, Minh còn có dấu hiệu của tội “Sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng” – theo qui định tại Bộ luật hình sự.

-------------------------------------------------

Tin mới nhất :

Báo Tuổi Trẻ ngày 18-1-2010 đưa tin hung thủ Nguyễn Văn Minh đã bị bắt tạm giam 3 tháng và bị khởi tố cùng lúc 3 tội danh là : chiếm giữ vũ khí quân dụng, sử dụng vũ khí quân dụng trái phép và bắt giữ người trái pháp luật.

Như vậy, so với bài viết trên thì Minh không bị khởi tố về tội đe dọa giết người.

Theo thông tin trên báo Tuổi Trẻ thì không có việc Minh dọa giết chị H. mà " bố của H. cho biết khoảng 5 giờ chiều ngày 16-1-2010, Minh đeo khẩu súng AK đến nhà tìm và hỏi thăm con gái ông. Vì H. đi vắng nên Minh chỉ đứng ở cổng nói chuyện.

Bố chị H. cho biết vì trước đó vài giờ đơn vị nơi Minh đóng quân đã gọi điện cho ông cảnh báo việc Minh lấy cắp súng và đạn, và đang trên đường đến nhà ông nên ông đã kịp thời báo cho công an Phường".

Với những tình tiết như trên, việc Minh không bị khởi tố về tội đe dọa giết người là khách quan.

Vì Minh đang là quân nhân, nên theo qui định của pháp luật, Minh sẽ bị truy tố và xét xử bởi Tòa án quân sự, chứ không phải là Tòa án nhân dân như các trường hợp thông thường khác.

-------------------------------------------------

Qui định của pháp luật :

Điều 133. Tội đe dọa giết người
1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

“1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.”.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?

5. Tư vấn hành vi lợi dụng để chiếm dụng tài sản của người khác ?

Xin chào luật sư! Em xin hỏi luật sư vấn đề sau: Từ tháng 5/2015 em có làm việc cho 1 quán net ở Thanh xuân. Trong khoảng thời gian 3 tháng từ tháng 5- tháng 8/2015 em có lấy của quán là 21triệu đồng. Khi chủ quán phát hiện thì em đã thừa nhận hành vi của mình và đã viết cam kết là sẽ trả lại đủ số tiền trên. Hôm phát hiện chủ quán net đã tịch thu 1 chiếc điện thoại samsung galaxy note2 (giá ở ngoài là 2 triệu đồng) và nói là khi nào trả hết tiền thì sẽ đuợc trả lại máy.
Đến nay em đã trả được 5 triệu 600 nghìn đồng, chủ quán net đó cũng đồng ý cho e trả dần và hứa khỏan tiền luơng tháng 7 chưa thanh tóan cho em sẽ trừ vào khỏan nợ đó (4 triệu đồng tiền luơng) nhưng lại giật của e 1 chiếc điện thoại iphone 6 plus em muợn của bạn dùng trong thời gian trả nợ.Bạn em có đến xin nhưng đều không trả , bạn em có ý định kiện ra phuờng, liệu chuyện này em cũng phải ra phuờng xử lý thì em sẽ bị xử lý như thế nào ạ? Lúc bị phát hiện em cũng đã thừa nhận hành vi của mình và đã hối lỗi,cũng đã chịu trách nhiệm đền bù lại khoản tiền em đã lấy,em cũng có tiểu sử bị bệnh động kinh ạ. Liệu mức xử phạt của em như thế nào ạ? Và bạn em liệu có được trả máy không? Nguời chủ quán net kia có mắc tội danh lợi dụng để chiếm dụng tài sản không ạ?
Em xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: V.A

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi. Chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, xét về hành vi của bạn có lấy của quán là 21 triệu đồng, bạn đã lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để công nhiên chiếm đoạt tài sản chủ quán net . Vậy, hành vi của bạn cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Khi phát hiện hành vi vi phạm của bạn nhưng không tố giác hành vi của bạn với cơ quan có thẩm quyền nơi xảy ra hành vi vi phạm mà qua đó yêu cầu bạn viết bản cam kết trả lại số tiền và tịch thu của bạn chiếc điện thoại.

Nếu bạn bị chủ quán nét khởi tố với hành vi trên thì sẽ dựa theo Điều 172 Bộ Luật Hình sự 2015 về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định:

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Hành hung để tẩu thoát;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Thứ hai , bạn có mượn chiếc điện thoại iphone 6 plus của bạn dùng trong thời gian trả nợ nhưng chủ quán đã lấy chiếc điện thoại này để trừ vào số tiền bạn lấy trộm. Xét thấy, chủ quán không có quyền làm vậy vì bạn và người chủ đó đã có viết bản cam kết quy định hình thức và cách thức trả nợ, hơn nữa người chủ đó cũng đã lấy chiếc điện thoại samsung galaxy note2 của bạn rồi. Nếu người bạn của bạn khởi kiện ra Phường thì bạn cũng sẽ phải ra làm chứng cho hành vi vi phạm của người chủ quán. Thiết nghĩ giữa bạn và người chủ có thỏa thuận nên hành vi của bạn sẽ không bị truy cứu, trừ khi người chủ tố giác bạn và bạn sẽ bị chịu mức hình phạt theo quy định nêu trên. Bạn cung cấp thêm thông tin bạn có tiền sử bị động kinh, nếu bạn bị khởi tố vụ án này bạn sẽ được giảm án nếu bạn có kết quả giám định của Cơ quan giám định về tình hình sức khỏe của bạn để được hưởng quyền lợi.

Thứ ba, bạn muốn biết người chủ quán nét có phạm tội danh lợi dụng để chiếm dụng tài sản thì chúng tôi phân tích sau: Hiện này theo quy định pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về tội danh này nhưng cũng có thể xét theo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, người chủ quán không cấu thành tội danh trên nên không thể khởi kiện về tội danh này được.

Nhận thấy, người chủ quán net này đã lợi dụng tình thế bị động của bạn do hành vi vi phạm của bạn gây ra nên vô hình chung sẽ lấy bất kỳ tài sản có giá trị nào bạn có được để trừ vào số tiền bị mất mát mà không cần dựa vào thỏa thuận cam kết trả nợ giữa hai bên. Nên bạn của bạn có thể khởi kiện với tội danh cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ Luật Hình sự 2015 Tội cưỡng đoạt tài sản như sau:

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162 . Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khởi kiện Người quản lý trong công ty TNHH 2 thành viên ?