Bản chất pháp lý của tội danh này không chỉ đơn thuần là hành vi xâm phạm tài sản, mà còn là sự kết hợp của hai nhóm hành vi nguy hiểm, xâm phạm đồng thời hai nhóm khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ: Quyền sở hữu tài sản và quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do của con người. Mức độ nguy hiểm này được thể hiện rõ qua hệ thống khung hình phạt nghiêm khắc và các tình tiết định khung tăng nặng đa dạng được quy định trong điều luật.

Trong bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ đi sâu phân tích một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về tội danh này, bắt đầu từ cấu thành tội phạm, hệ thống khung hình phạt, đến các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật. Mục tiêu là cung cấp một tài liệu tham khảo chi tiết, có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho các chuyên gia pháp lý, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lĩnh vực này, đồng thời chỉ ra những vướng mắc còn tồn tại và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Điều 169, luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản:

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người 46% trở lên;

d) Làm chết người.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - <a class='tel'  data-cke-saved-href='tel:19006162' href='tel:19006162'>1900.6162</a>

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

1. Phân tích các yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Để xác định một hành vi có cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hay không, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.

1.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là đối tượng mà hành vi phạm tội xâm hại. Tội danh này xâm phạm đồng thời hai nhóm khách thể xã hội được pháp luật bảo vệ.

  • Quan hệ nhân thân: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe và quyền tự do của con người. Hành vi bắt cóc người khác làm con tin trực tiếp xâm phạm đến các quyền này của nạn nhân.
  • Quan hệ sở hữu: Quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Mục đích của hành vi bắt cóc là để chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại về tài sản cho người thân hoặc chủ sở hữu tài sản.

Trong nhiều trường hợp, người bị xâm phạm về thân thể (con tin) và người bị xâm phạm về tài sản (người phải nộp tiền chuộc) là hai chủ thể khác nhau. Việc sử dụng con tin như một công cụ gây áp lực để đạt được mục đích tài sản chính là bản chất đặc trưng và mức độ nguy hiểm của tội phạm này. Điều này phân biệt rõ ràng tội bắt cóc với các tội phạm về sở hữu khác, nơi người bị hại về tài sản và người bị tấn công thường là một.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua hành vi "bắt cóc người khác làm con tin" và mối liên hệ với mục đích "chiếm đoạt tài sản".

Hành vi bắt cóc: Là hành vi bắt giữ, giam giữ người khác một cách trái pháp luật. Hành vi này có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, đe dọa vũ lực, cho uống thuốc mê, lừa dối hoặc các thủ đoạn nguy hiểm khác để làm tê liệt khả năng chống cự của nạn nhân. Người phạm tội đưa con tin đến một nơi nào đó và sau đó thông báo cho người thân của họ về yêu cầu chuộc tiền.

Thời điểm hoàn thành tội phạm: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là tội phạm có cấu thành hình thức. Điều này có nghĩa là tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện xong hành vi bắt cóc người khác làm con tin với mục đích chiếm đoạt tài sản, bất kể việc chiếm đoạt tài sản có thành công hay không. Việc xác định tội phạm hoàn thành tại thời điểm này cho thấy pháp luật hình sự coi trọng và nghiêm trị hành vi xâm phạm quyền tự do, thân thể của con người hơn cả hậu quả về tài sản.

1.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Về độ tuổi: Chủ thể phải từ đủ 16 tuổi trở lên. Theo quy định của Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ở Khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng nên người dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này ở khung cơ bản.

Về năng lực trách nhiệm hình sự: Chủ thể phải có năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi của mình. Nếu người phạm tội thiếu một trong hai năng lực này do bệnh tâm thần hoặc lý do khác, họ có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự.

Đồng phạm: Tội danh này thường được thực hiện bởi nhiều người dưới hình thức đồng phạm. Trong các vụ án đồng phạm, cần phân tích vai trò của từng người, từ người cầm đầu, chủ mưu đến người giúp sức, để có cơ sở quyết định hình phạt phù hợp.

1.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý trực tiếp.

Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi bắt giữ người khác là trái pháp luật, nhận thức được mục đích chiếm đoạt tài sản, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mong muốn những hậu quả đó xảy ra.

Mục đích chiếm đoạt tài sản: Đây là dấu hiệu bắt buộc để định tội danh. Nếu hành vi bắt giữ người không có mục đích chiếm đoạt tài sản, mà vì các mục đích khác như trả thù, ép buộc, thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh khác, ví dụ như "Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật" (Điều 157 BLHS).

Sự chuyển hóa tội danh: Một điểm đáng lưu ý trong thực tiễn là mục đích chiếm đoạt tài sản có thể phát sinh trước, trong hoặc thậm chí sau khi đã thực hiện hành vi bắt cóc. Ví dụ, một người ban đầu bắt giữ người khác để trả thù, nhưng sau đó nảy sinh ý định đòi tiền chuộc. Trong trường hợp này, hành vi của họ đã chuyển hóa từ tội bắt người trái pháp luật sang tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Sự thay đổi về ý chí chủ quan này là căn cứ pháp lý quan trọng để định tội danh chính xác.

 

2. Khung hình phạt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Điều 169 Bộ luật Hình sự 2015 quy định một hệ thống khung hình phạt đa dạng, phản ánh mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Gồm 04 khung hình phạt tặng dần theo từng tình tiết định khung (Hành vi vi phạm pháp luật của người phạm tội) và 02 khung hình phạt bổ sung và hình phạt áp dụng cho người chuẩn bị phạm tội.

Khung 1 (Khung cơ bản theo khoản 1, Điều 169 BLHS): Hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, áp dụng cho hành vi cơ bản là bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

Khung 2 (Khung tăng nặng theo khoản 2, Điều 169 BLHS): Hình phạt tù từ 5 năm đến 12 năm, áp dụng khi tội phạm thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng hơn, như: Có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi hoặc từ 2 người trở lên; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; gây thương tích hoặc rối loạn tâm thần cho nạn nhân với tỷ lệ tổn thương từ 11% đến 30%; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tái phạm nguy hiểm.

Khung 3 (Khung tăng nặng theo khoản 3, Điều 169 BLHS): Hình phạt tù từ 10 năm đến 18 năm, áp dụng khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; hoặc gây thương tích hoặc rối loạn tâm thần cho nạn nhân với tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60%.

Khung 4 (Khung tăng nặng theo khoản 4, Điều 169 BLHS): : Hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, áp dụng cho các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bao gồm: chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên; làm chết người; gây thương tích hoặc rối loạn tâm thần cho nạn nhân với tỷ lệ tổn thương từ 61% trở lên (hoặc cho từ 2 người trở lên với tỷ lệ từ 31% trở lên).

Pháp luật hình sự Việt Nam cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi "chuẩn bị phạm tội" này, với mức phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật Minh Khuê lập bảng tổng hợp các khung hình phạt và tình tiết định khung của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản như sau:

Khung hình phạt Mức hình phạt Tình tiết định khung
Khung cơ bản (Khung 1)

Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm

Hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

Khung tăng nặng (Khung 2)

Phạt tù từ 5 năm đến 12 năm

Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Dùng vũ khí; Đối với người dưới 16 tuổi hoặc từ 2 người trở lên; Chiếm đoạt tài sản từ 50-200 triệu đồng; Gây thương tích từ 11%-30%; Gây rối loạn tâm thần từ 11%-45%; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; Tái phạm nguy hiểm.

Khung tăng nặng (Khung 3)

Phạt tù từ 10 năm đến 18 năm

Chiếm đoạt tài sản từ 200-500 triệu đồng; Gây thương tích từ 31%-60%; Gây rối loạn tâm thần từ 46% trở lên.

Khung tăng nặng (Khung 4)

Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

Chiếm đoạt tài sản từ 500 triệu đồng trở lên; Làm chết người; Gây thương tích từ 61% trở lên (hoặc từ 2 người trở lên với tỷ lệ từ 31% trở lên).

Hình phạt bổ sung

Phạt tiền từ 10-100 triệu đồng, quản chế, cấm cư trú từ 1-5 năm hoặc tịch thu tài sản.

 
Chuẩn bị phạm tội

Phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

 

 

3. So sánh với các tội danh tương tự

Việc phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các tội danh tương tự là rất quan trọng để đảm bảo việc định tội danh chính xác.

Tiêu Chí Tội Bắt Cóc Nhằm Chiếm Đoạt Tài Sản (Điều 169) Tội Cướp Tài Sản (Điều 168) Tội Bắt, Giữ hoặc Giam Người Trái Pháp Luật (Điều 157)
Hành vi

Bắt giữ người khác làm con tin trái pháp luật

Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc thủ đoạn khác làm người bị hại không thể chống cự

Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Thời điểm chiếm đoạt

Thường yêu cầu chiếm đoạt tài sản diễn ra sau một khoảng thời gian, không tức thì

Diễn ra ngay tức khắc trong quá trình dùng vũ lực hoặc đe dọa

Không có hành vi chiếm đoạt tài sản
Đối tượng tác động

Xâm phạm đồng thời quyền nhân thân (con tin) và quyền sở hữu (người thân của con tin)

Xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu và quyền nhân thân của cùng một người bị hại

Chỉ xâm phạm quyền nhân thân (quyền tự do) của người bị hại

Mặt chủ quan

Mục đích bắt buộc là chiếm đoạt tài sản

Mục đích bắt buộc là chiếm đoạt tài sản

Không có mục đích chiếm đoạt tài sản. Mục đích có thể là trả thù, ép buộc, v.v.

Phân tích trên cho thấy, điểm khác biệt cơ bản giữa Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và Tội bắt, giữ người trái pháp luật nằm ở mục đích chiếm đoạt tài sản. Trong khi đó, sự khác biệt giữa tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cướp tài sản nằm ở bản chất hành vi và thời điểm chiếm đoạt. Tội cướp sử dụng vũ lực tức thì để chiếm đoạt tài sản, còn tội bắt cóc sử dụng hành vi bắt giữ con tin như một thủ đoạn gián tiếp và lâu dài để gây áp lực đòi tài sản.

 

4. Một số câu hỏi thường gặp liên quan đến tội danh

Dựa trên quá trình tư vấn, tham gia giải quyết các vụ án hình sự có liên quan đến tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản - Luật Minh Khuê tổng hợp một số câu hỏi, vướng mắc thường gặp về tội danh này như sau:

Hỏi: Bắt cóc con ruột rồi bỏ đi nơi khác sinh sống có phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản? 

Trả lời: Điều 169 BLHS năm 2015 sửa đổi 2017 có quy định mục đích, đông cơ của tội danh này là phải nhằm chiếm đoạt tài sản của người thân hoặc chính con tin đã bắt cóc. Do vậy, trường hợp bạn hỏi có thể chia trành 02 trường hợp như sau:

  • Trường hợp 1: Do tranh chấp con cái, mà Bạn muốn "bắt cóc" con đi nơi khác sinh sống không nhằm mục đích đe doạ, tống tiền một bên còn lại. Trường hợp này không vi phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 169. Bạn có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: "Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi" và nên yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp quyền nuôi con. Tham khảo: Quyền nuôi con sau khi ly hôn.
  • Trường hợp 2: Bạn bắt cóc con nhằm mục đích ép bên đối phương phải đưa một khoản tiền "chuộc" thì mới trả lại con. Trường hợp này có dấu hiệu vi phạm quy định của tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

 

5. Những vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện về tội danh

Hiện nay, các tội xâm phạm sở hữu nói chung, trong đó có tội phạm về bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản diễn ra hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng. Nhưng việc áp dụng các quy định của BLHS để điều tra, truy tố, xét xử về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản còn gặp nhiều bất cập do nhận thức và sự áp dụng không thống nhất các quy định của pháp luật. Điều này làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bên cạnh đó, những quy định của BLHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã bộc lộ những nhược điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh có hiệu quả với tình trạng phạm tội này trên thực tiễn. Cụ thể:

Thứ nhất, theo Từ điển tiếng Việt, “bắt cóc là hành vi bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”1. Vậy, hành vi giữ người nhưng không đem giấu đi mà chỉ dùng để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản có phải là hành vi phạm tội này không? Ví dụ: Nguyễn Văn A vào nhà chị V, thấy con gái của chị V đang ngồi học trong nhà. A chốt cửa lại. Khi chị V về, A không cho con gái chị V ra mở cửa mà uy hiếp tinh thần, yêu cầu chị V phải nộp cho A 50 triệu đồng mới thả con gái chị. Như vậy, A đã thực hiện hành vi bắt giữ con gái chị V và yêu cầu tiền chuộc. Nhưng địa điểm bắt giữ lại chính tại nhà người bị hại. Về vấn đề này, nếu chiếu theo nghĩa đen của từ “bắt cóc” thì A không phạm Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, do A không giấu cháu bé đi; mà hành vi của A chỉ cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản. Nhưng lại có quan điểm khẳng định hành vi của A đã cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, vì A đã thực hiện hành vi bắt giữ người nhằm chiếm đoạt tài sản. Theo chúng tôi, chỉ cần người phạm tội bắt, giữ người nhằm chiếm đoạt tài sản là đã phạm tội - không phải Tội cưỡng đoạt tài sản. Tuy nhiên, nếu gọi là “bắt cóc” cũng chưa chuẩn. Vì vậy, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, tên Điều 169 cần được sửa thành: Tội bắt, giữ người nhằm chiếm đoạt tài sản. Khoản 1 Điều 169 BLHS nên được sửa là: Người nào bắt, giữ người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Thứ hai, hiện nay, pháp luật hình sự không quy định về thời gian giam giữ người bị hại bao lâu thì người bắt cóc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Điều này đã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến những quan điểm áp dụng pháp luật không thống nhất. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu có hành vi bắt và giam, giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể truy cứu TNHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bất kể thời gian giam, giữ là bao lâu. Quan điểm thứ hai lại coi nếu thời gian giam giữ con tin không nhiều, chẳng hạn như chỉ vài phút, thì không thể truy cứu TNHS về tội này mà phải truy cứu TNHS về Tội cưỡng đoạt tài sản. Theo chúng tôi, cứ có hành vi giam, giữ, không phụ thuộc bao lâu, thì có thể truy cứu TNHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, vì mục đích của người phạm tội là bắt, giữ người để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, vấn đề này cần được khẳng định rõ ràng trong BLHS theo hướng sau: Người nào có hành vi bắt, giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản không phụ thuộc vào thời gian giam giữ bao lâu thì...

Thứ ba, thực tiễn xét xử cho thấy có những vụ án người phạm tội đã sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực làm cho người bị bắt cóc lâm vào tình trạng không thể chống cự được để bắt đi nhằm yêu cầu người thân của họ đưa tiền chuộc thì có nên truy cứu TNHS Tội cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản không? Có ý kiến đề nghị truy cứu TNHS thành hai tội, vì hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn đủ các dấu hiệu của mặt khách quan Tội cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Ý kiến khác lại cho rằng, hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội chỉ nhằm mục đích bắt cóc con tin nên nó là tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì thế chỉ có thể truy cứu TNHS theo tội này.

Thứ tư, pháp luật hình sự hiện hành vẫn chưa quy định về hành vi bắt, giữ người thân trong gia đình là tình tiết định khung tăng nặng. Có thể nói, đây là điều không hợp lý bởi trên thực tế có nhiều vụ án, người phạm tội bắt cóc người thân của mình nhằm đòi tiền chuộc. Qua nghiên cứu ngẫu nhiên 50 bản án hình sự sơ thẩm, chúng tôi thấy có đến 13 bản án mà người phạm Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản bắt, giữ chính người thân của mình nhằm đòi tiền chuộc. Người phạm tội bắt, giữ những người thân trong gia đình thì thủ đoạn thực hiện tội phạm sẽ dễ dàng hơn. Hơn nữa, những vụ án này luôn gây bức xúc mạnh mẽ trong dư luận xã hội, phá hoại truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, cần phải xử lý nghiêm minh. Do vậy, theo chúng tôi, trong tội này, phải quy định bắt, giữ người thân trong gia đình là tình tiết định khung tăng nặng để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

Thứ năm, quy định “sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” là tình tiết định khung tăng nặng. Vướng mắc nảy sinh ở chỗ là trường hợp người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản sử dụng vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ có bị truy cứu TNHS về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự hay không?

Để giải quyết các vướng mắc và bất cập đã nêu, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đến nâng cao năng lực cho các cơ quan tố tụng.

Thứ nhất, hoàn thiện Án lệ và ban hành văn bản hướng dẫn cần ban hành Thông tư liên tịch của các cơ quan tiến hành tố tụng trung ương để hướng dẫn chi tiết, thống nhất cách xác định giá trị tài sản mà bị cáo có ý định chiếm đoạt và các tiêu chí cụ thể để chứng minh tình tiết "có tổ chức" theo tinh thần của Án lệ 64/2023/AL.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự về lâu dài, cần xem xét việc nội luật hóa các hướng dẫn quan trọng đã được thừa nhận qua án lệ vào chính văn bản Bộ luật Hình sự. Điều này sẽ nâng cao tính minh bạch, tính ổn định và tính dự đoán của pháp luật.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn cần tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu, hội thảo trao đổi kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ điều tra, kiểm sát viên và thẩm phán để họ nắm vững các quy định của pháp luật, các án lệ và các hướng dẫn mới nhất, từ đó áp dụng pháp luật một cách chính xác và công bằng.

Kết luận

Qua phân tích chi tiết, có thể thấy Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một tội danh phức tạp và đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đồng thời các quan hệ pháp luật về nhân thân và sở hữu. Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đã thể hiện sự nghiêm khắc thông qua việc quy định đây là tội phạm có cấu thành hình thức, cùng với một hệ thống khung hình phạt phân tầng rõ rệt. Các văn bản hướng dẫn và án lệ, đặc biệt là Án lệ 64/2023/AL, đã từng bước giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc định tội và định khung hình phạt.

Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, nhất là trong việc xác định giá trị tài sản định chiếm đoạt và chứng minh tình tiết "có tổ chức". Việc giải quyết những vấn đề này không chỉ giúp đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật mà còn góp phần bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì an ninh, trật tự xã hội. Một hệ thống pháp luật chặt chẽ, được áp dụng thống nhất và hiệu quả là nền tảng quan trọng để đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài luật sư hình sự: 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp. Trân trọng./.