1. Tội phạm rất nghiêm trọng là gì?

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính gây nguy hại rất lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt được quy định đối với tội này là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù.

Tội phạm rất nghiêm trọng là một trong bốn nhóm tội được phân loại trong Bộ luật hình sự. Theo quy định của Bộ luật hình sự có hai dấu hiệu xác định tội phạm rất nghiêm trọng. Đó là tính nguy hại rất lớn cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù, trong đó dấu hiệu thứ nhất có tính quyết định, quy định dấu hiệu thứ hai.

Phân biệt với tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.

Trước Bộ luật hình sự năm 1999, luật hình sự Việt Nam chỉ phân tội phạm thành hai loại là tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.

 

2. Liên quan đến định nghĩa tội phạm

Liên quan đến định nghĩa về tội phạm rất nghiêm trọng, hiện nay Bộ Luật Hình sự 2015 còn có những loại tội phạm khác đó là:

-Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

-Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù.

-Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

 

3. Quy định về phân loại tội phạm

Trước đây Bộ Luật hình sự năm 1999 đưa việc phân loại vào Điều 8 khái niệm tội phạm. Tuy nhiên quy định này vô hình dung gây ra sự nhầm lẫn về thuộc tính của tội phạm, bởi các loại tội phạm chỉ là việc phân hóa mức độ chịu trách nhiệm hình sự, là sự chi tiết hóa cho một hành vi khi bị xem là cấu thành tội phạm.Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), quy định về phân loại tội phạm tại Điều 9, phân chia 4 loại tội phạm bao gồm: Tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.
Việc phân loại tội phạm được xem xét dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo đó tùy vào mức độ mà áp dụng loại hình phạt tương thích, đảm bảo được tính răn đe cũng như yếu tố giáo dục.
Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Trách nhiệm hình sự của các chủ thể vi phạm được xác định ngay tại giai đoạn đầu và từ đó định hướng được các chế tài xử lý phù hợp.
Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần và tương ứng với đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần. Nếu trước đây việc phân loại hình phạt và khung hình phạt để áp dụng cho mỗi loại tội phạm được thực hiện theo phương thức áp mức tối đa thì hiện nay các nhà làm luật đã liệt kê một cách chi tiết, rõ ràng giúp việc vận dụng luật được thuận tiện hơn.
Tương tự chủ thể là cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại khi có các hành vi xâm phạm các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ cũng phải chịu những chế tài tương ứng với từng loại tội phạm nhất định.
 

4. Cách thức phân loại tội phạm theo luật hình sự trước đây

Có nhiều cách phân loại tội phạm khác nhau. Mỗi cách phân loại dựa trên tiêu chí nhất định và nhằm những mục đích khác nhau. Ví dụ: căn cứ vào tính chất của lỗi có thể phân tội phạm thành tội cố ý và tội vô ý; căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm có thể phân tội phạm thành tội có cấu thành tội phạm vật chất và tội có cấu thành tội phạm hình thức... Phân loại tội phạm có thể là phân loại tội phạm trong luật hoặc trong nghiên cứu luật hoặc trong thực tiễn áp dụng luật.

Trong Bộ luật hình sự, tội phạm trước hết được phân thành các nhóm tội khác nhau dựa trên mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội. Bộ luật hình sự năm 1985 phân tội phạm thành hai nhóm với mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Đó là tội phạm ít nghiêm trọng có tính gây nguy hại không lớn cho xã hội và tội phạm nghiêm trọng có tính gây nguy hại lớn cho xã hội. Để có cơ sở cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự ở mức độ cao hơn. Bộ luật hình sự năm 2015 phân tội phạm thành bốn nhóm tội: tội phạm ít nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng; tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tương ứng với bốn mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội nguy hại không lớn, nguy hại lớn, nguy hại rất lớn và nguy hại đặc biệt lớn, đây cũng là bốn mức độ của tính chịu hình phạt. Cụ thể: mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm ít nghiêm trọng chỉ đến 3 năm tù; mức Cđb nhất của khung hình phạt đối với tội Phạm nghiêm trọng là đến 7 năm tù; mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm rất nghiêm trọng là đến 15 năm tù và mức cao nhất của khung hình phat đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là trên 18 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Đây cũng lạ hình thức là phân loại tội phạm trong luật cơ bắn nhất, nó vừa là một biểu hiện của sự phận hoá trách nhiệm hình sự trong luật và vừa là cơ sở thống nhất cho các biểu hiện phân hóa trách nhiệm hình sự khác. Các quy định thể hiện sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật đều dựa trên sự phân loại tội phạm này như quy định về trách nhiệm hình sự của chuẩn bị phạm tội, quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Trong Bộ luật hình sự, tội phạm còn được phân thành các nhóm tội phạm khác nhau theo các nhóm quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Sự phân loại này là cơ sở cho việc xây dựng các chương thuộc Phần các tội phạm (phần riêng) của Bộ luật hình SỰ. Trong Bộ luật hình sự năm 1985, khi mới ban hành, các tội phạm cụ thể được chia thành 12 nhóm khác nhau và được quy định trong 12 chương của Bộ luật hình sự. Từ khi được sửa đổi, bổ sung lần thứ tư năm 1997, Bộ luật hình sự năm 1985 chia các tội phạm cụ thể thành 13 nhóm khác nhau. Trong Bộ luật hình sự năm 2015, các tội phạm cụ thể được chia thành 14 nhóm tội khác nhau.

>> Xem thêm: Thiếu trách nhiệm trong việc canh gác người bị tạm giữ để người đó bỏ trốn thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng thì bị phạt bao nhiêu năm tù?

 

5. Cách thức phân loại tội phạm theo luật hình sự hiện hành

Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như trình bày trên nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Tội phạm bao gồm từ những hành vi có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh quốc gia như hành vi phản bội Tổ quốc (Điều 108 BLHS) đến những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội không lớn như hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 bộ luật hình sự năm 2015). Những hành vi phạm tội cụ thể không những có sự khác nhau về nguyên nhân, về tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại mà còn có sự khác nhau ngay ở tính chất và mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra cũng như ở nhiều tình tiết khách quan và chủ quan khác.

Tội phạm có chung dấu hiệu là tính nguy hiểm cho xã hội nhưng mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội không phải như nhau mà có sự khác nhau giữa các tội phạm cũng như giữa các trường hợp phạm tội của tội cụ thể. Chính do sự khác nhau như vậy mà vấn đề phân hoá và cá thể hoá hình phạt nói riêng cũng như TNHS nói chung đã được đặt ra và được coi là nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam. Trong đó, phân hoá TNHS là sự phân hoá trong luật còn cá thể hoá TNHS là sự phân hoá trong áp dụng. Trước hết đòi hỏi phải có sự phân hoá TNHS trong luật và sự phân hoá này là cơ sở để có thể cá thể hoá TNHS trong áp dụng. Thể hiện nguyên tắc phân hoá TNHS, luật hình sự Việt Nam phân tội phạm thành bốn nhóm tội phạm khác nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.(1) Sự phân hoá thành bốn nhóm tội phạm như vậy vừa là biểu hiện cơ bản của sự phân hoá TNHS vừa là cơ sở thống nhất cho sự phân hoá TNHS trong BLHS. Sự phân hoá này là cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cho các tội phạm cụ thể cũng như cho việc xây dựng trong luật hình sự và trong các ngành luật khác có liên quan các quy định thể hiện sự phân hoá trong chông các loại tội phạm khác nhau. Đó là những căn cứ pháp lí thống nhất để các chủ thể áp dụng pháp luật thực hiện được nguyên tắc cá thể hoá TNHS khi áp dụng luật hình sự.

Thứ nhất, tội phạm ít nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Thứ hai, tội phạm nghiêm trọng.

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù.

Thứ ba, tội phạm rất nghiêm trọng.

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.

Thứ tư, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Ngoài ra, tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)