1. Khái niệm xâm phạm an ninh lãnh thổ

Xâm phạm an ninh lãnh thổ là hình thức hoạt động phá hoại, có tính chất khiêu khích, gây tình hình căng thẳng, không ổn định ở khu vực biên giới và cũng có thể là những hành vi chuẩn bị cho việc tiến hành chiến tranh xâm lược. Vì vậy, khách thể của tội phạm này là sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Điều 1 Hiến pháp năm 2013 bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Mọi hoạt động xâm phạm an ninh lãnh thổ, tức là xâm phạm đến chủ quyền quốc gia.
Người phạm tội xâm phạm an ninh lãnh thổ là người xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó có thể là người tổ chức, người hoạt động đắc lực, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đồng phạm hoặc chuẩn bị phạm tội.

2. Quy định về tội xâm phạm an ninh lãnh thổ trong Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017?

Điều 111. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ
Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quổc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phiỉơng hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân;
2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm;
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

3. Bình luận về tội xâm phạm an ninh lãnh thổ

Điều luật gồm phần quy định các dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm an ninh lãnh thổ và 3 đoạn quy định các khung hình phạt, trong đó đoạn 1 quy định khung hình phạt cho người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực cũng như người gây hậu quả nghiêm trọng, đoạn 2 quy định khung hình phạt cho người đồng phạm khác và đoạn 3 quy định khung hình phạt cho trường họp chuẩn bị phạm tội.
Theo quy định của điều luật, tội xâm phạm an ninh lãnh thổ gồm 03 trường họp phạm tội với các dấu hiệu pháp lý riêng. Cụ thể:
* về trường hợp phạm tội thứ nhất - Hành vi xâm nhập lãnh thổ Việt Nam (nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam)
Đây là trường hợp chủ thể đã có hành vi vượt biên giới (trên đất liền, trên biển, trên không) vào lãnh thổ Vỉệt Nam một cách trái phép bằng phương tiện, phương thức bất kỳ. Lỗi của chủ thể là cố ý và với mục đích sau khi xâm nhập sẽ thực hiện các hành vi gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của Việt Nam. Mục đích này cho phép phân biệt tội này với các tội xâm phạm an toàn giao thông được quy định tại Điều 283 và Điều 284 BLHS.
* về trường hợp phạm tội thứ hai - Hành vi làm sai lệch đường biên giới quốc gia

>> Xem thêm:  Khu vực biên giới trên đất liền là gì ? Quy định pháp luật về khu vực biên giới đất liền?

Đây là trường hợp chủ thể đã làm thay đổi vị trí đúng của đường biên giới quốc gia giữa Việt Nam với nước khác qua hành động như hành động di dời mốc biên giới quốc gia vào phía lãnh thổ Việt Nam hoặc qua hành động làm thay đổi dòng chảy của con sông đang được coi là đường biên giới tự nhiên vào phía lãnh thổ Việt Nam. Lỗi của chủ thể là cố ý và với mục đích gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của Việt Nam.
* về trường hợp phạm tội thứ ba - Hành vi khác (nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam)
Đây là trường hợp chủ thể có các hành động khác với hai loại hành động nói trên nhưng cũng có tính chất gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của Việt Nam thể hiện qua việc gây mất ổn định về an ninh trật tự tại khu vực biên giới như hành vi bắn phá vào lãnh thổ Việt Nam ở khu vực biên giới V.V.. Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý và với mục đích gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của Việt Nam.
Đoạn 1 của điều luật quy định khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho người tổ chức, người hoạt động đắc lực và người gây hậu quả nghiêm trọng. Trong đó, người tổ chức được hiểu là người có hành vi thành lập hoặc điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm có tổ chức tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; người hoạt động đắc lực là người tham gia đồng phạm và đã thực hiện hành vi thể hiện vai trò tích cực và mức độ tham gia quan trọng của mình; người gây hậu quả nghiêm trọng là người tham gia đồng phạm và đã thực hiện hành vi cụ thể gây hậu quả nghiêm trọng.
Đoạn 2 của điều luật quy định khung hình phạt có mức phạt tù từ 05 năm đến 15 năm được áp dụng cho người đồng phạm khác. Đó là người tham gia đồng phạm nhưng không phải là người hoạt động đắc lực cũng như không phải là người gây hậu quả nghiêm trọng nêu trên.
Đoạn 3 của điều luật quy định khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội xâm phạm an ninh lãnh thổ. Quy định này là điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999, thể hiện rõ đường lối xử lý có sự phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng giữa trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường hợp tội phạm hoàn thành ở tội xâm phạm an ninh lãnh thổ.

3.1 Về mặt khách quan của tội phạm:

- Về hành vi:
+ Người phạm tội có hành vi xâm nhập lãnh thổ Việt Nam một cách trái phép.
Xâm nhập lãnh thổ Việt Nam một cách trái phép ở đây có thể được hiểu là tiến vào lãnh thổ Việt Nam khi chưa được sự đồng ý, cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam bằng đường bộ (đối với vùng biên giới trên đất liền) hoặc đường biển (đối với vùng biên giới trên biển) hoặc đường sông (các con sông chảy qua nhiều quốc gia khác nhau trong đó có Việt Nam).

>> Xem thêm:  Diễn tập chiến thuật là gì ? Một số vấn đề trong công tác diễn tập chiến thuật

Việc xâm nhập có thể được tiến hành lén lút, bí mật hoặc công khai có vũ trang, bán vũ trang hoặc không có vũ trang.
+ Làm sai lệch đường biên giới quốc gia: Người phạm tôi có hành vi xê dịch các cột mốc đánh dấu tọa độ của đường biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển,...
- Về mặt hậu quả: Làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở một trong các hành vi sau:
Xâm nhập lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xâm nhập lãnh thổ là hành vi của người nước ngoài cố ý vượt qua biên giới quốc gia, đi vào lãnh thổ Việt Nam một cách bất hợp pháp nhằm phá hoại an ninh lãnh thổ Việt Nam. Xâm nhập lãnh thổ có thể kèm theo khiêu khích vũ trang song khiêu khích vũ trang không phải là dấu hiệu bắt buộc của xâm nhập lãnh thổ. Xâm nhập lãnh thổ khác với nhập cánh trái phép ở tính chất chính trị của hành vi này. Hành vi xâm nhập lãnh thổ có thể được thực hiện công khai hoặc lén lút, bí mật qua đường bộ, đường thủy, đường biển hoặc đường không.
Làm sai lệch đường biên giới quốc gia là hành vi cố ý làm thay đổi đường biên giới quốc gia Việt Nam với nước ngoài. Biểu hiện cụ thê của hành vi này có thể là di chuyển cột mốc biên giới vào phần lãnh thổ Việt Nam, tạo dựng các cột mốc giả để lần chiếm đất hoặc nắn dòng chảy các con sông biên giới.
Hành động khác phá hoại an ninh lãnh thổ. Những hành vi loại này có thể là gây hư hại mốc giới quốc gia; xâm canh, xâm cư; bắn, phóng, thả, đưa qua biên giới trên không các phương tiện bay, vật thể, chất gây hại hoặc có nguy cơ gây hại cho an ninh, quốc phòng Việt Nam..

3.2 Về mặt chủ quan của tội phạm:

- Về lỗi: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình xâm phạm đến chủ quyền quốc gia của Việt Nam, thấy trước hành vi đó sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
- Mục đích là dấu hiệu bắt buộc: Nhằm gây hại cho an ninh quốc gia của Việt Nam, làm cho tình hình an ninh ở các vùng biên giới (trên đất liền và trên biển) trở nên phức tạp, mất ổn đình,...

3.3 Mặt khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến an ninh quốc gia về chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia được pháp luật bảo vệ bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển thuộc chủ quyền của nước Cộng hóa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

>> Xem thêm:  Đảo chính là gì ? Dấu hiệu nhận biết đảo chính ?

Khách thể của tội xâm phạm an ninh lãnh thổ là an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mỗi quốc gia được cầu thành từ ba bộ phận cơ bản là lãnh thổ quốc gia, dân cư sinh sống trên lãnh thổ và hệ thống chính quyền. Như vậy, sự tồn tại của quốc gia gắn liền với vấn đề lãnh thổ. Lãnh thổ là không gian sinh tồn của quốc gia. Về mặt khoa học, lãnh thổ được hiểu là phần không gian được xác định bởi đường biên giới quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia. Lãnh thổ quốc gia Việt Nam, theo quy định của Điều 1 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Một cách khái quát, lãnh thổ quốc gia bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất.
An ninh lãnh thổ là một phần không thể tách rời của an ninh quốc gia nói chung. Nội dung của an ninh lãnh thổ là sự ổn định, thống nhất và trường tồn của lãnh thổ quốc gia Việt Nam.

3.4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm đối với cả ba loại trường hợp phạm tội nêu trên theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội xâm phạm an ninh lãnh thổ không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.5 Mặt chủ quan của tội xâm phạm an ninh lãnh thổ:

tội xâm phạm an ninh lãnh thổ được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích phạm tội là nhằm phá hoại an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Công pháp quốc tế là gì ? Khái niệm công pháp quốc tế được hiểu như thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nguồn tin về tội phạm bao gồm như thế nào?

Trả lời:

Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện.

 

Câu hỏi: Người bị buộc tội gồm những ai?

Trả lời:

Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Câu hỏi: Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là những ai?

Trả lời:

Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là người có quan hệ với người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.