1. Tái định cư là gì?

Tái định cư là một chính sách được áp dụng bởi Nhà nước nhằm giúp đỡ và bù đắp những tổn thất về chỗ ở cho những người sử dụng đất khi đất và nhà ở của họ bị thu hồi. Tái định cư nhằm cung cấp cho người dân một chỗ ở mới sau khi họ buộc phải di chuyển khỏi địa điểm hiện tại do sự thu hồi đất. Trong quá trình tái định cư, Nhà nước sẽ tiến hành bố trí và sắp xếp chỗ ở mới cho người dân trong các khu vực được quy định. Hình thức tái định cư có thể là xây dựng nhà ở sẵn có, chung cư, căn hộ, hoặc các khu đô thị mới.

Quá trình tái định cư thường được tiến hành theo một quy trình nhất định, bao gồm các giai đoạn như đánh giá tài sản, đàm phán và thỏa thuận bồi thường, chuyển đổi chỗ ở, và hỗ trợ tái định cư. Quy trình này có thể bao gồm việc cung cấp hỗ trợ tài chính, hỗ trợ về chỗ ở mới, hỗ trợ xây dựng nhà ở, và các dịch vụ hỗ trợ khác nhằm giúp người dân thích nghi và tái lập cuộc sống sau khi chuyển đổi chỗ ở. Mục đích của tái định cư là đảm bảo rằng người dân bị thu hồi đất có được một chỗ ở thích hợp, đáng sống và đủ điều kiện để tiếp tục cuộc sống. Tuy nhiên, quyền lợi và điều kiện của người dân trong quá trình tái định cư phải tuân thủ các quy định pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan.

2. Điều kiện để được hỗ trợ tái định cư

Các điều kiện để được bố trí tái định cư được quy định như sau:

- Theo Điểm a, Khoản 1 của Điều 79 Luật Đất đai năm 2013: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam và đáp ứng các tiêu chí bồi thường được quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau: Trường hợp không có đất ở hoặc nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi, họ sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trong trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở, Nhà nước sẽ bồi thường bằng tiền.

- Theo Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP về Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở:

+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam và có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đáp ứng các điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, sẽ được bồi thường về đất như sau:

+ Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và hộ gia đình, cá nhân không có đất ở hoặc nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, họ sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.

+ Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhưng hộ gia đình, cá nhân vẫn còn đất ở hoặc nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, họ sẽ được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có quỹ đất ở sẵn, cân nhắc có thể được tiến hành bồi thường bằng đất ở.

+ Trường hợp trong hộ gia đình quy định có nhiều thế hệ hoặc nhiều cặp vợ chồng cùng sống trên một thửa đất thu hồi, nếu họ đáp ứng các điều kiện tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương để quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. Tổng hợp các trường hợp không được bố trí tái định cư

Các trường hợp không được bố trí tái định cư được xác định dựa trên các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điều 83 Luật Đất đai năm 2013, không có quy định cụ thể về các trường hợp không được bố trí tái định cư. Tuy nhiên, điểm c khoản 2 của Điều 83 quy định về các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, trong đó có hỗ trợ tái định cư cho các trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và phải di chuyển chỗ ở. Ngoài ra, Nghị định 47/2014/NĐ-CP trong Điều 6 quy định các trường hợp được hỗ trợ bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam, và sau khi đất ở bị thu hồi không đủ điều kiện để ở hoặc không có đất ở khác trong cùng địa bàn.

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam, và trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất bị thu hồi. Trong trường hợp này, nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 thửa đất bị thu hồi, thì sẽ được xem xét hỗ trợ nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn, và không có chỗ ở khác trong cùng địa bàn.

=> Từ các quy định trên, có thể suy ra các trường hợp không được hỗ trợ tái định cư bao gồm:

- Trường hợp cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi không phải là đất ở.

- Trường hợp cá nhân, hộ gia đình bị thu hồi đất ở nhưng vẫn còn đất ở, nhà ở khác trong cùng địa bàn.

- Trường hợp cá nhân, hộ gia đình bị thu hồi một phần đất ở và phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi đủ điều kiện để ở.

4. Các trường hợp không được bố trí tái định cư thì sẽ được bồi thường như thế nào?

Giá đất bồi thường đối với các trường hợp không được bố trí tái định cư:

- Giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi.

- Trường hợp không có đất để bồi thường, người được bồi thường sẽ nhận được tiền bồi thường theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

- Giá đất để tính tiền bồi thường khi đất bị Nhà nước thu hồi được xác định như sau:

+ Là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ.

+ Trường hợp không bồi thường theo giá đất, giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng (giá thị trường).

+ Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai, áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp.

- Kết quả tư vấn xác định giá đất sau đó được cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định theo Điều 114 Luật Đất đai năm 2013.

- Mức bồi thường đối với các trường hợp không được bố trí tái định cư:

+ Đất nông nghiệp: Mức bồi thường khi thu hồi đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại.

+ Đất ở: Theo Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 quy định bồi thường khi thu hồi đất ở là đất ở hoặc nhà ở. Trong trường hợp không có đất để bồi thường hoặc người được bồi thường không có nhu cầu, mức bồi thường sẽ được thực hiện bằng tiền.

+ Đất phi nông nghiệp không phải đất ở: Được bồi thường bằng tiền, với giá đất thu hồi nhân với diện tích đất chia cho thời gian sử dụng và tất cả nhân với thời gian sử dụng đất còn lại theo Điều 7 Nghị định 47/2014/NĐ-CP. Mức bồi thường cụ thể phụ thuộc vào quy định của từng địa phương.

- Bồi thường về nhà và các tài sản khác gắn liền với đất đối với các trường hợp không được bố trí tái định cư:

+ Ngoài bồi thường về đất, nhà, và các công trình xây dựng khác, các tài sản khác như cây trồng, vật nuôi cũng được bồi thường.

+ Đối với nhà ở, mức bồi thường được xác định theo quy định tại Điều 9 Nghị định 47/2014/NĐ-CP. Mức bồi thường nhà, công trình được tính bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền bồi thường tính theo tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó. Quy định chi tiết về cách tính giá trị hiện có của nhà và giới hạn tối đa của khoản tiền bồi thường được quy định bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

+ Các công trình xây dựng khác cũng được xác định tương tự với cách xác định mức bồi thường đối với nhà ở.

+ Đối với cây trồng, mức bồi thường được tính dựa trên giá trị sản lượng của vụ thu hoạch đối với cây trồng hằng năm và giá trị hiện có của vườn cây đối với cây trồng lâu năm, theo Điều 90 Luật Đất đai 2013.

+ Đối với vật nuôi, Nhà nước chỉ bồi thường với vật nuôi là thủy sản như cá, tôm và mức bồi thường tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng địa phương.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: Điều kiện để được hỗ trợ tái định cư như thế nào ? Cách tính bồi thường khi bồi thường tái định cư ?

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!