1. Tổng hợp thơ chúc mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

1.1. Sao anh chưa về lại - Phạm Hùng

Chiến tranh hết anh còn chưa về lại

Để mẹ buồn đợi bên mái nhà tranh

Nước mắt mẹ nối đuôi nhau chảy mãi

Và nỗi đau khiến giấc ngủ chẳng lành.

Cha ngã xuống nơi cổ thành Quảng Trị

Nén đau thương ngày chăm chỉ cấy, cày

Gom hạt thóc nuôi đoàn quân đánh Mỹ

Nhiều đêm trường lệ mẹ đẫm bàn tay.

Anh khôn lớn trong những ngày họ Đặng*

Gieo vành khăn màu trắng khắp phương nam

Mẹ nức nở giữa canh dài khuya vắng

Lúc được tin anh ngừng việc đang làm.

Vai khoác súng dù chẳng ham chém giết

Chàng kỹ sư bỏ cây lúa... lên đường

Trong huyết quản sục sôi dòng máu Việt

Không thể nhìn... khi Tổ Quốc tang thương.

Chiến tranh hết... sao anh chưa về lại?

Đang ở đâu giữa hoang dại núi rừng

Anh có biết nhiều năm rồi khắc khoải

Mẹ bây giờ đã bạc tóc, còng lưng.

Mẹ chờ mãi anh còn đi biền biệt?

Không trở về thăm lại mái nhà xưa

Chiến trường cũ máu loang giờ đã hết

Sao chẳng về... hồn dãi nắng, dầm mưa.

Nhiều đồng đội vẫn sớm, trưa tìm kiếm

Anh nằm đâu sao chẳng chịu quay về

Nước mắt mẹ chưa bao giờ ngừng chảy

Kể từ ngày...

Anh hăm hở ra đi!

 

1.2. Bài thơ: Chất lính - Ngô Hạnh

Gian khổ nào bằng vượt dãy Trường sơn

Thiếu gạo thiếu rau sốt rét mưa nguồn

Lính vẫn hiên ngang tiến lên phía trước

Đường ra trận đều chung một hướng.

Là con đường giải phóng Miền Nam.

Có gì quý hơn độ tuổi thanh xuân

Vì độc lập ta hiến dâng tất cả.

Những nét riêng tư cũng không còn nữa

Tất cả hòa chung nhịp bước quân hành.

Tất cả làm nên đại thắng Mùa Xuân.

Hòa bình rồi về đời thường phẳng lặng

Lính vẫn sẻ chia như chiến trận thuở nào

Chút hàng căng tin có đáng là bao

Chia căn hộ cũng nhường người lấy trước.

Cái lý của anh: quý như tính mạng

Ta dám cho rồi nhường tiếp có sao!

Việc khó khăn vẫn hăng hái đi đầu

So vượt Trường Sơn - chỉ là chuyện nhỏ.

Cuộc sống đời thường biết bao cám dỗ

Chất lính giữ gìn đâu phải giản đơn.

Đời có nghèo chẳng toan tính thiệt hơn

Sống liêm khiết rồi cũng đâu vào đấy.

Không nói ra mà người đời vẫn thấy.

Người có quên nhưng trời chẳng thể quên

Mất cái này được cái khác lớn hơn.

Sướng-khổ-buồn-vui luật đời là thế

Dẫu cuộc đời có thăng trầm dâu bể

Thì vẫn tự hào chất lính mãi trong ta.

 

1.3. Thơ tình lính đảo - Phạm Hồng Giang

Anh lại viết vần thơ tình lính đảo

Sóng đại dương khờ khạo đỡ thân tầu

Lính mà em gia tài có gì đâu

Chỉ duy nhất chứa một bầu máu đỏ

Đời lính đảo còn gian nan khốn khó

Bụi trường chinh hòa nhuộm gió trùng khơi

Lá thư nhà mặn đắng cả vành môi

Niềm nhung nhớ nổi trôi cùng cánh sóng

Đêm sương giá còn ngày thì cháy bỏng

Cọng rau Dền đọng cả bát mồ hôi

Phút tuần tra trăng chênh chếch mé đồi

Ôm cây súng thành một đôi tri kỷ

Đời lính mà em ơi đừng suy nghĩ

Tổ quốc cần người chiến sĩ tiền phương

Sau lưng là lời nhắn nhủ quê hương

Vững tay súng trên con đường binh nghiệp

Thơ viết dở ngày mai anh viết tiếp

Cánh Hải Âu ...

" báo tiệp"...

Nhắc xuân về !

 

1.4. Cánh võng - Thanh Phong

Thủa ấu thơ

Nghe tiếng mẹ à ơi!

Cánh võng đu đưa

Ru con vào giấc ngủ

Trong m

Con thấy đàn cò trắng

Thấy con đò bến nước dòng sôn

Chút lớn khôn

Thương mẹ hiền vất vả lưng còng

Con bắt ốc mò cua mót lúa

Lúc thảnh thơi

Mắc võng vào bờ tre trước ngõ

Chao võng đều đều

Đón ngọn gió nồm nam.

Trưởng thành rồi!

Sức trẻ thanh niên

Xa mẹ xa quê con lên đường nhập ngũ

Bãi khách Trường Sơn buổi đầu bỡ ngỡ

Mắc võng giữa rừng

Nhớ mẹ, nhớ quê!

Đã bao lần “đầu súng trăng treo”

Đã mấy lúc mưa dầm nắng gắt

Đã bao phen đạp trên đầu giặc

Để lúc yên bình

Mắc võng

Ngắm trời xanh!

Xuất ngũ về trong cuộc sống bon chen

Theo quy luật: có con rồi có cháu

Cánh võng Trường Sơn kỷ niệm một thời xương máu

Nay mắc trước hè

Chăm giấc ngủ cháu con!

Ơi! Cánh võng diệu huyền từ thuở ấu thơ

Đã theo suốt đời tôi

Như một con đò nhỏ

Dẫu chòng chành qua muôn vàn sóng gió

Vẫn đưa tôi về

Bến cũ

Mẹ ầu ơ!

 

1.5. Anh vẫn hành quân- Đặng Chấn Hưng

Anh vẫn hành quân từ nghìn năm xư

Dấu chân trần theo tiếng gọi các vua

Nhộn nhịp xa xa bước đi muôn thuở

Của thế hệ xưa dòng máu lạc hồng.

Từ thuở hồng hoang trong bọc đồng bào

Chân lên rừng chân lao ra biển lớn

Chiến thắng thủy thần cao hơn mạng sống

Ghi lại dấu chân con lạc cháu hồng.

Anh vẫn bước đi theo nhịp trống đồn

Bốn ngàn năm cha ông ta dựng nước

Nỏ thần ơi dội đầu quân xâm lược

Dựng nên rồi Đất Nước Việt Nam ta.

Vốn dĩ dân ta sống rất hiền hòa

Lo ở lo ăn trồng hoa để sống

Không muốn nghe tiếng bom và tiếng súng

Xây tượng đài liệt sĩ ngắm mà vui.

Nhưng thói đời vẫn cứ thói đời thôi

Không ngồi với nhau điều hơn lẽ thiệt

Cứ muốn chiếm nhiều và chẳng cần biết

Cần đánh nhau không cần thiết hòa bình.

Đã lâu rồi trên Đất Nước Việt mìn

Trải hàng nghìn năm kẻ thù rình rập

Muốn cướp đi của ta từng tấc đất

Biến ta thành kẻ mất hết không nhà.

Nói với nhau bằng lời lẽ ôn hòa

Không chịu được phải giờ ra nắm đấm

Cũng chẳng xong đành phải cầm súng ống

Tàu chiến máy bay hay cả đống xe tăng.

Chiến tranh đã trải qua bao tháng năm

Người mất, tật còn, xương nằm dưới đất

Gia đình nát tan chiến tranh cướp mất

Trên đất này nay tràn ngập nghĩa trang.

Ta vẫn phải theo tiếng gọi non sông

Rầm rập vang lên bước chân không mỏ

Để Tổ Quốc ta ngàn năm sống mãi

Đến bây giờ anh lại bước hành quân.

Hành quân xa chẳng còn mấy gian nan

Nhưng máu đào vẫn còn đang đổ đấy

Vì cuộc sống ta bầu trời xanh biết mấy

Hành quân rồi lại vùng dậy hành quân.

 

1.6. Tự hào - Hồ Như

Truyền thống Quân đội nhân dân

Mỗi năm chỉ đến một lần hiển nhiên

Cờ hoa rực sắc ba miền

Nhớ về một thuở ghi tên đời mình

Trải bao mất mát, hy sinh

Bảy mốt năm, vẫn trọn tình nước non

“Trăm năm bia đá thì mòn”

Vẫn mong truyền thống vẹn tròn ngàn năm.

Đời người như kiếp phận con tằm

Nuôi tình nhả nghĩa vụ chăm lòng người

Dù cho thịt nát xương rơi

Bấy nhiêu năm vẫn rạng ngời chữ nhân.

 

1.7. Chào mừng ngày 22/12 - Trần Sơ

Mừng ngày quốc phòng toàn dân

Mừng ngày thành lập của quân đội mình

Quân đội cụ Hồ Chí Minh

Những người gìn giữ hòa bình tự do

Biển đông sóng lớn, gió to

Vẫn chắc tay súng giữ cho vững bền

Quân tướng từ dưới lên trên

Một lòng, một dạ không quên lời thề

Giữ từng tấc đất miền quê

Tuổi xanh không tiếc, chẳng nề gian nan

Khó khăn dù vẫn muôn vàn

Đoàn quân vẫn bước, vẫn vang quân hành

Quân - Dân như bức tường thành

Việt Nam đất nước xứng danh Anh Hùng.

 

1.8. Đêm ấy hành quân - An Giang Bùi

Đường hành quân qua một cánh rừng,

Đơn vị dừng chân ngày mai tiếp bước,

Đêm về khuya chị Hằng còn thức,

Gió thì thầm, âu yếm trên cây.

Đồng đội ngủ say,

Tôi cầm cây bút.

Lá rừng bỗng chốc,

Gọi nhau xạc xào.

Đêm đã vào sâu,

Phập phồng chờ đợi.

Vì sao le lói,

Vén lá nhìn tôi.

Sao Mai thấp thoáng đỉnh đồi.

Trầm ngâm suy tưởng, bồi hồi nhớ ai.

 

1.9. Trái tim người lính - Vũ Dung

Chẳng hiểu từ bao giờ em yêu lính

Yêu bước chân dũng mãnh lúc hành quân

Yêu màu áo xanh dân dã thật gần

Yêu bài hát " Khúc quân hành" Sôi nổi

Anh yêu em bằng trái tim nóng hổi

Trái tim người lính rất đỗi dịu dàng

Dòng máu nóng trong huyết quản anh mang

Của ông cha bao đời vẫn cuộn chảy

Lũ giặc đến tình yêu thành lửa cháy

Thiêu đốt kẻ thù giành lại giang san

Đời lính chiến chẳng biết sợ nguy nan

Bạn với cây với muôn ngàn sóng gió

Giữa khó khăn tình yêu càng sáng tỏ

Bao nhớ thương gửi theo gió theo mây

Tổ quốc còn tình yêu mãi còn đây

Tim người lính lồng bóng hình đất nước.

 

1.10. Anh là Lính - Nguyễn Thị Tuyết

Rồi một ngày tôi bước vào quân ngũ

Khi tuổi đời chưa đủ nghĩ suy

Xa quê hương xa bạn xa bè

Và cô bé chung vách nhà bên xóm

Ba tháng quân trường luyện rèn đời lính

Khi thao trường lúc vượt núi băng sông

Khi nửa đêm trống giục tấn công

Chưa kịp ngủ trời vừa hừng sáng

Những đêm trăng nhớ bè nhớ bạn

Gió biên thùy thổi tạt làn da

Ngẫm quê hương giặc cướp trường sa

Càng cố gắng dặn lòng không rơi lệ

Bạn với lính điếu thuốc vừa cháy dở

Không cà phê không gái đẹp gợi tình

Những khi buồn khi nhớ người yêu

Ba lô lộn viết vội vàng mấy chữ

Đời của lính biết bao là gian khổ

Vẫn lạc quan mỗi độ xuân về

Quê còn nghèo thương những trẻ thơ

Nguyện cố gắp góp công vì tổ Quốc

 

2. Lịch sử và ý nghĩa ngày 22/12 – Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngày 22 tháng 12 hằng năm là dấu mốc lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam, kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đây không chỉ là ngày kỷ niệm mang ý nghĩa quân sự – lịch sử, mà còn là dịp để toàn xã hội ôn lại truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và tinh thần quốc phòng toàn dân cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Năm 2024, ngày 22/12 càng có ý nghĩa sâu sắc khi cả nước long trọng kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2024).

 

2.1. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử của ngày 22/12/1944

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam – chính thức được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đơn vị ban đầu chỉ gồm 34 chiến sĩ, được tổ chức thành 3 tiểu đội, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy.

Việc lựa chọn tên gọi “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Trong đó, “tuyên truyền” được đặt trước “giải phóng quân”, thể hiện rõ tư tưởng lấy chính trị, tư tưởng và lòng dân làm nền tảng cho sức mạnh quân sự. Quân đội ra đời không chỉ để chiến đấu vũ trang, mà còn là công cụ vận động, giác ngộ quần chúng, gắn bó mật thiết với nhân dân và phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đây là mô hình quân đội kiểu mới, khác biệt căn bản với các quân đội nhà nghề thuần túy, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng.

Từ sự kiện lịch sử này, ngày 22/12 được ghi nhận là ngày khai sinh của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, mở đầu cho quá trình hình thành, phát triển và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

 

2.2. Những chiến công đầu tiên và bài học về trí tuệ, nhân văn

Chỉ ba ngày sau khi thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã lập nên những chiến công đầu tiên tại Phai Khắt và Nà Ngần (25 và 26/12/1944). Đây là những trận đánh nhỏ về quy mô nhưng có ý nghĩa lớn về chiến lược, khẳng định sự đúng đắn của đường lối xây dựng quân đội cách mạng.

Trong các trận đánh này, bộ đội ta đã vận dụng linh hoạt chiến thuật, sáng tạo trong cách đánh, thể hiện trí tuệ quân sự vượt trội. Đặc biệt, việc cải trang thành lính địch, sử dụng vũ khí và trang phục thu được để thâm nhập đồn địch cho thấy khả năng tổ chức, kỷ luật và tinh thần mưu trí của lực lượng vũ trang non trẻ.

Điều nổi bật hơn cả là tính nhân văn sâu sắc trong cách đối xử với tù binh. Sau chiến thắng Nà Ngần, quân ta bắt sống nhiều binh lính địch nhưng không xử tử, mà cho họ lựa chọn trở về quê hoặc tham gia lực lượng cách mạng. Hành động này thể hiện rõ bản chất “từ nhân dân mà ra” của quân đội cách mạng, đồng thời là hình thức tuyên truyền hiệu quả, góp phần lan tỏa uy tín và chính nghĩa của cách mạng Việt Nam.

Những chiến công đầu tiên ấy không chỉ mở ra chặng đường phát triển vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn để lại bài học sâu sắc về sự kết hợp giữa dũng cảm, trí tuệ và lòng nhân ái trong chiến đấu.

 

2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức đặt tên cho lực lượng vũ trang cách mạng là Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi này hàm chứa triết lý sâu sắc: quân đội sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ và hy sinh. Trên nền tảng đó, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành và trở thành giá trị tinh thần cốt lõi của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện trọn vẹn trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước hôm nay. Không chỉ kiên cường trong chiến đấu, người lính còn luôn có mặt nơi gian khó, sẵn sàng giúp dân chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, tham gia xây dựng nông thôn mới, củng cố thế trận lòng dân.

Qua thời gian, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt ra khỏi phạm vi quân sự, trở thành một biểu tượng văn hóa – đạo đức, thể hiện sự gắn bó bền chặt giữa quân đội và nhân dân, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

 

2.4. Ngày 22/12 và Ngày hội Quốc phòng toàn dân

Từ năm 1989, ngày 22/12 còn được xác định là Ngày hội Quốc phòng toàn dân. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc, khẳng định quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong đó quốc phòng không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, mà là trách nhiệm chung của toàn dân, toàn xã hội.

Việc kỷ niệm Ngày hội Quốc phòng toàn dân góp phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ học sinh, về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Đối với học sinh, nhiệm vụ ấy được cụ thể hóa bằng việc rèn luyện đạo đức, ý thức kỷ luật, tinh thần vượt khó và nỗ lực học tập tốt, xem đó là cách thiết thực để tri ân các thế hệ cha anh đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Như vậy, ngày 22/12 không chỉ là ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là ngày hội lớn của toàn dân tộc, kết tinh giá trị lịch sử, tư tưởng và giáo dục sâu sắc, có ý nghĩa bền vững trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam.