- 1. Tổng hợp thơ chúc mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12
- 1.1. Sao anh chưa về lại - Phạm Hùng
- 1.2. Bài thơ: Chất lính - Ngô Hạnh
- 1.3. Thơ tình lính đảo - Phạm Hồng Giang
- 1.4. Cánh võng - Thanh Phong
- 1.5. Anh vẫn hành quân- Đặng Chấn Hưng
- 1.6. Tự hào - Hồ Như
- 1.7. Chào mừng ngày 22/12 - Trần Sơ
- 1.8. Đêm ấy hành quân - An Giang Bùi
- 1.9. Trái tim người lính - Vũ Dung
- 1.10. Anh là Lính - Nguyễn Thị Tuyết
- 2. Lịch sử và ý nghĩa ngày 22/12 – Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam
- 2.1. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử của ngày 22/12/1944
- 2.2. Những chiến công đầu tiên và bài học về trí tuệ, nhân văn
- 2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”
- 2.4. Ngày 22/12 và Ngày hội Quốc phòng toàn dân
1. Tổng hợp thơ chúc mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12
1.1. Sao anh chưa về lại - Phạm Hùng
Chiến tranh hết anh còn chưa về lại
Để mẹ buồn đợi bên mái nhà tranh
Nước mắt mẹ nối đuôi nhau chảy mãi
Và nỗi đau khiến giấc ngủ chẳng lành.
Cha ngã xuống nơi cổ thành Quảng Trị
Nén đau thương ngày chăm chỉ cấy, cày
Gom hạt thóc nuôi đoàn quân đánh Mỹ
Nhiều đêm trường lệ mẹ đẫm bàn tay.
Anh khôn lớn trong những ngày họ Đặng*
Gieo vành khăn màu trắng khắp phương nam
Mẹ nức nở giữa canh dài khuya vắng
Lúc được tin anh ngừng việc đang làm.
Vai khoác súng dù chẳng ham chém giết
Chàng kỹ sư bỏ cây lúa... lên đường
Trong huyết quản sục sôi dòng máu Việt
Không thể nhìn... khi Tổ Quốc tang thương.
Chiến tranh hết... sao anh chưa về lại?
Đang ở đâu giữa hoang dại núi rừng
Anh có biết nhiều năm rồi khắc khoải
Mẹ bây giờ đã bạc tóc, còng lưng.
Mẹ chờ mãi anh còn đi biền biệt?
Không trở về thăm lại mái nhà xưa
Chiến trường cũ máu loang giờ đã hết
Sao chẳng về... hồn dãi nắng, dầm mưa.
Nhiều đồng đội vẫn sớm, trưa tìm kiếm
Anh nằm đâu sao chẳng chịu quay về
Nước mắt mẹ chưa bao giờ ngừng chảy
Kể từ ngày...
Anh hăm hở ra đi!
1.2. Bài thơ: Chất lính - Ngô Hạnh
Gian khổ nào bằng vượt dãy Trường sơn
Thiếu gạo thiếu rau sốt rét mưa nguồn
Lính vẫn hiên ngang tiến lên phía trước
Đường ra trận đều chung một hướng.
Là con đường giải phóng Miền Nam.
Có gì quý hơn độ tuổi thanh xuân
Vì độc lập ta hiến dâng tất cả.
Những nét riêng tư cũng không còn nữa
Tất cả hòa chung nhịp bước quân hành.
Tất cả làm nên đại thắng Mùa Xuân.
Hòa bình rồi về đời thường phẳng lặng
Lính vẫn sẻ chia như chiến trận thuở nào
Chút hàng căng tin có đáng là bao
Chia căn hộ cũng nhường người lấy trước.
Cái lý của anh: quý như tính mạng
Ta dám cho rồi nhường tiếp có sao!
Việc khó khăn vẫn hăng hái đi đầu
So vượt Trường Sơn - chỉ là chuyện nhỏ.
Cuộc sống đời thường biết bao cám dỗ
Chất lính giữ gìn đâu phải giản đơn.
Đời có nghèo chẳng toan tính thiệt hơn
Sống liêm khiết rồi cũng đâu vào đấy.
Không nói ra mà người đời vẫn thấy.
Người có quên nhưng trời chẳng thể quên
Mất cái này được cái khác lớn hơn.
Sướng-khổ-buồn-vui luật đời là thế
Dẫu cuộc đời có thăng trầm dâu bể
Thì vẫn tự hào chất lính mãi trong ta.
(12).jpg)
1.3. Thơ tình lính đảo - Phạm Hồng Giang
Anh lại viết vần thơ tình lính đảo
Sóng đại dương khờ khạo đỡ thân tầu
Lính mà em gia tài có gì đâu
Chỉ duy nhất chứa một bầu máu đỏ
Đời lính đảo còn gian nan khốn khó
Bụi trường chinh hòa nhuộm gió trùng khơi
Lá thư nhà mặn đắng cả vành môi
Niềm nhung nhớ nổi trôi cùng cánh sóng
Đêm sương giá còn ngày thì cháy bỏng
Cọng rau Dền đọng cả bát mồ hôi
Phút tuần tra trăng chênh chếch mé đồi
Ôm cây súng thành một đôi tri kỷ
Đời lính mà em ơi đừng suy nghĩ
Tổ quốc cần người chiến sĩ tiền phương
Sau lưng là lời nhắn nhủ quê hương
Vững tay súng trên con đường binh nghiệp
Thơ viết dở ngày mai anh viết tiếp
Cánh Hải Âu ...
" báo tiệp"...
Nhắc xuân về !
1.4. Cánh võng - Thanh Phong
Thủa ấu thơ
Nghe tiếng mẹ à ơi!
Cánh võng đu đưa
Ru con vào giấc ngủ
Trong m
Con thấy đàn cò trắng
Thấy con đò bến nước dòng sôn
Chút lớn khôn
Thương mẹ hiền vất vả lưng còng
Con bắt ốc mò cua mót lúa
Lúc thảnh thơi
Mắc võng vào bờ tre trước ngõ
Chao võng đều đều
Đón ngọn gió nồm nam.
Trưởng thành rồi!
Sức trẻ thanh niên
Xa mẹ xa quê con lên đường nhập ngũ
Bãi khách Trường Sơn buổi đầu bỡ ngỡ
Mắc võng giữa rừng
Nhớ mẹ, nhớ quê!
Đã bao lần “đầu súng trăng treo”
Đã mấy lúc mưa dầm nắng gắt
Đã bao phen đạp trên đầu giặc
Để lúc yên bình
Mắc võng
Ngắm trời xanh!
Xuất ngũ về trong cuộc sống bon chen
Theo quy luật: có con rồi có cháu
Cánh võng Trường Sơn kỷ niệm một thời xương máu
Nay mắc trước hè
Chăm giấc ngủ cháu con!
Ơi! Cánh võng diệu huyền từ thuở ấu thơ
Đã theo suốt đời tôi
Như một con đò nhỏ
Dẫu chòng chành qua muôn vàn sóng gió
Vẫn đưa tôi về
Bến cũ
Mẹ ầu ơ!
1.5. Anh vẫn hành quân- Đặng Chấn Hưng
Anh vẫn hành quân từ nghìn năm xư
Dấu chân trần theo tiếng gọi các vua
Nhộn nhịp xa xa bước đi muôn thuở
Của thế hệ xưa dòng máu lạc hồng.
Từ thuở hồng hoang trong bọc đồng bào
Chân lên rừng chân lao ra biển lớn
Chiến thắng thủy thần cao hơn mạng sống
Ghi lại dấu chân con lạc cháu hồng.
Anh vẫn bước đi theo nhịp trống đồn
Bốn ngàn năm cha ông ta dựng nước
Nỏ thần ơi dội đầu quân xâm lược
Dựng nên rồi Đất Nước Việt Nam ta.
Vốn dĩ dân ta sống rất hiền hòa
Lo ở lo ăn trồng hoa để sống
Không muốn nghe tiếng bom và tiếng súng
Xây tượng đài liệt sĩ ngắm mà vui.
Nhưng thói đời vẫn cứ thói đời thôi
Không ngồi với nhau điều hơn lẽ thiệt
Cứ muốn chiếm nhiều và chẳng cần biết
Cần đánh nhau không cần thiết hòa bình.
Đã lâu rồi trên Đất Nước Việt mìn
Trải hàng nghìn năm kẻ thù rình rập
Muốn cướp đi của ta từng tấc đất
Biến ta thành kẻ mất hết không nhà.
Nói với nhau bằng lời lẽ ôn hòa
Không chịu được phải giờ ra nắm đấm
Cũng chẳng xong đành phải cầm súng ống
Tàu chiến máy bay hay cả đống xe tăng.
Chiến tranh đã trải qua bao tháng năm
Người mất, tật còn, xương nằm dưới đất
Gia đình nát tan chiến tranh cướp mất
Trên đất này nay tràn ngập nghĩa trang.
Ta vẫn phải theo tiếng gọi non sông
Rầm rập vang lên bước chân không mỏ
Để Tổ Quốc ta ngàn năm sống mãi
Đến bây giờ anh lại bước hành quân.
Hành quân xa chẳng còn mấy gian nan
Nhưng máu đào vẫn còn đang đổ đấy
Vì cuộc sống ta bầu trời xanh biết mấy
Hành quân rồi lại vùng dậy hành quân.
1.6. Tự hào - Hồ Như
Truyền thống Quân đội nhân dân
Mỗi năm chỉ đến một lần hiển nhiên
Cờ hoa rực sắc ba miền
Nhớ về một thuở ghi tên đời mình
Trải bao mất mát, hy sinh
Bảy mốt năm, vẫn trọn tình nước non
“Trăm năm bia đá thì mòn”
Vẫn mong truyền thống vẹn tròn ngàn năm.
Đời người như kiếp phận con tằm
Nuôi tình nhả nghĩa vụ chăm lòng người
Dù cho thịt nát xương rơi
Bấy nhiêu năm vẫn rạng ngời chữ nhân.
1.7. Chào mừng ngày 22/12 - Trần Sơ
Mừng ngày quốc phòng toàn dân
Mừng ngày thành lập của quân đội mình
Quân đội cụ Hồ Chí Minh
Những người gìn giữ hòa bình tự do
Biển đông sóng lớn, gió to
Vẫn chắc tay súng giữ cho vững bền
Quân tướng từ dưới lên trên
Một lòng, một dạ không quên lời thề
Giữ từng tấc đất miền quê
Tuổi xanh không tiếc, chẳng nề gian nan
Khó khăn dù vẫn muôn vàn
Đoàn quân vẫn bước, vẫn vang quân hành
Quân - Dân như bức tường thành
Việt Nam đất nước xứng danh Anh Hùng.
1.8. Đêm ấy hành quân - An Giang Bùi
Đường hành quân qua một cánh rừng,
Đơn vị dừng chân ngày mai tiếp bước,
Đêm về khuya chị Hằng còn thức,
Gió thì thầm, âu yếm trên cây.
Đồng đội ngủ say,
Tôi cầm cây bút.
Lá rừng bỗng chốc,
Gọi nhau xạc xào.
Đêm đã vào sâu,
Phập phồng chờ đợi.
Vì sao le lói,
Vén lá nhìn tôi.
Sao Mai thấp thoáng đỉnh đồi.
Trầm ngâm suy tưởng, bồi hồi nhớ ai.
1.9. Trái tim người lính - Vũ Dung
Chẳng hiểu từ bao giờ em yêu lính
Yêu bước chân dũng mãnh lúc hành quân
Yêu màu áo xanh dân dã thật gần
Yêu bài hát " Khúc quân hành" Sôi nổi
Anh yêu em bằng trái tim nóng hổi
Trái tim người lính rất đỗi dịu dàng
Dòng máu nóng trong huyết quản anh mang
Của ông cha bao đời vẫn cuộn chảy
Lũ giặc đến tình yêu thành lửa cháy
Thiêu đốt kẻ thù giành lại giang san
Đời lính chiến chẳng biết sợ nguy nan
Bạn với cây với muôn ngàn sóng gió
Giữa khó khăn tình yêu càng sáng tỏ
Bao nhớ thương gửi theo gió theo mây
Tổ quốc còn tình yêu mãi còn đây
Tim người lính lồng bóng hình đất nước.
1.10. Anh là Lính - Nguyễn Thị Tuyết
Rồi một ngày tôi bước vào quân ngũ
Khi tuổi đời chưa đủ nghĩ suy
Xa quê hương xa bạn xa bè
Và cô bé chung vách nhà bên xóm
Ba tháng quân trường luyện rèn đời lính
Khi thao trường lúc vượt núi băng sông
Khi nửa đêm trống giục tấn công
Chưa kịp ngủ trời vừa hừng sáng
Những đêm trăng nhớ bè nhớ bạn
Gió biên thùy thổi tạt làn da
Ngẫm quê hương giặc cướp trường sa
Càng cố gắng dặn lòng không rơi lệ
Bạn với lính điếu thuốc vừa cháy dở
Không cà phê không gái đẹp gợi tình
Những khi buồn khi nhớ người yêu
Ba lô lộn viết vội vàng mấy chữ
Đời của lính biết bao là gian khổ
Vẫn lạc quan mỗi độ xuân về
Quê còn nghèo thương những trẻ thơ
Nguyện cố gắp góp công vì tổ Quốc
2. Lịch sử và ý nghĩa ngày 22/12 – Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam
Ngày 22 tháng 12 hằng năm là dấu mốc lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam, kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đây không chỉ là ngày kỷ niệm mang ý nghĩa quân sự – lịch sử, mà còn là dịp để toàn xã hội ôn lại truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và tinh thần quốc phòng toàn dân cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Năm 2024, ngày 22/12 càng có ý nghĩa sâu sắc khi cả nước long trọng kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2024).
2.1. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử của ngày 22/12/1944
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam – chính thức được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đơn vị ban đầu chỉ gồm 34 chiến sĩ, được tổ chức thành 3 tiểu đội, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy.
Việc lựa chọn tên gọi “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Trong đó, “tuyên truyền” được đặt trước “giải phóng quân”, thể hiện rõ tư tưởng lấy chính trị, tư tưởng và lòng dân làm nền tảng cho sức mạnh quân sự. Quân đội ra đời không chỉ để chiến đấu vũ trang, mà còn là công cụ vận động, giác ngộ quần chúng, gắn bó mật thiết với nhân dân và phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đây là mô hình quân đội kiểu mới, khác biệt căn bản với các quân đội nhà nghề thuần túy, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng.
Từ sự kiện lịch sử này, ngày 22/12 được ghi nhận là ngày khai sinh của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, mở đầu cho quá trình hình thành, phát triển và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
2.2. Những chiến công đầu tiên và bài học về trí tuệ, nhân văn
Chỉ ba ngày sau khi thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã lập nên những chiến công đầu tiên tại Phai Khắt và Nà Ngần (25 và 26/12/1944). Đây là những trận đánh nhỏ về quy mô nhưng có ý nghĩa lớn về chiến lược, khẳng định sự đúng đắn của đường lối xây dựng quân đội cách mạng.
Trong các trận đánh này, bộ đội ta đã vận dụng linh hoạt chiến thuật, sáng tạo trong cách đánh, thể hiện trí tuệ quân sự vượt trội. Đặc biệt, việc cải trang thành lính địch, sử dụng vũ khí và trang phục thu được để thâm nhập đồn địch cho thấy khả năng tổ chức, kỷ luật và tinh thần mưu trí của lực lượng vũ trang non trẻ.
Điều nổi bật hơn cả là tính nhân văn sâu sắc trong cách đối xử với tù binh. Sau chiến thắng Nà Ngần, quân ta bắt sống nhiều binh lính địch nhưng không xử tử, mà cho họ lựa chọn trở về quê hoặc tham gia lực lượng cách mạng. Hành động này thể hiện rõ bản chất “từ nhân dân mà ra” của quân đội cách mạng, đồng thời là hình thức tuyên truyền hiệu quả, góp phần lan tỏa uy tín và chính nghĩa của cách mạng Việt Nam.
Những chiến công đầu tiên ấy không chỉ mở ra chặng đường phát triển vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn để lại bài học sâu sắc về sự kết hợp giữa dũng cảm, trí tuệ và lòng nhân ái trong chiến đấu.
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”
Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức đặt tên cho lực lượng vũ trang cách mạng là Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi này hàm chứa triết lý sâu sắc: quân đội sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ và hy sinh. Trên nền tảng đó, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành và trở thành giá trị tinh thần cốt lõi của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện trọn vẹn trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước hôm nay. Không chỉ kiên cường trong chiến đấu, người lính còn luôn có mặt nơi gian khó, sẵn sàng giúp dân chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, tham gia xây dựng nông thôn mới, củng cố thế trận lòng dân.
Qua thời gian, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt ra khỏi phạm vi quân sự, trở thành một biểu tượng văn hóa – đạo đức, thể hiện sự gắn bó bền chặt giữa quân đội và nhân dân, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
2.4. Ngày 22/12 và Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Từ năm 1989, ngày 22/12 còn được xác định là Ngày hội Quốc phòng toàn dân. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc, khẳng định quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong đó quốc phòng không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, mà là trách nhiệm chung của toàn dân, toàn xã hội.
Việc kỷ niệm Ngày hội Quốc phòng toàn dân góp phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ học sinh, về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Đối với học sinh, nhiệm vụ ấy được cụ thể hóa bằng việc rèn luyện đạo đức, ý thức kỷ luật, tinh thần vượt khó và nỗ lực học tập tốt, xem đó là cách thiết thực để tri ân các thế hệ cha anh đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Như vậy, ngày 22/12 không chỉ là ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là ngày hội lớn của toàn dân tộc, kết tinh giá trị lịch sử, tư tưởng và giáo dục sâu sắc, có ý nghĩa bền vững trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam.