1. Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chính là lực lượng tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày luôn lớn mạnh và phát triển vượt bậc kể từ ngày thành lập. Ngày 22/12/1944 được xác định là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự luôn có sứ mệnh cao cả là bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc ta. Một quân đội "của dân, do dân, vì dân"; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.
Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hằng năm không chỉ còn là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân.
Từ đó đến nay, hằng năm cứ đến ngày này là nhân dân Việt Nam lại tổ chức các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giành lại độc lập của dân tộc ta và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước nồng nàn, yêu con đường mà Đảng ta đã chọn là CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.
2. Lịch sử và ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12
Tháng 12/1944, lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Chỉ thị đã nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có nghĩa là chính trị quân trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc..."
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo. Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ có ý chí vô cùng kiên cường, bất khuất, dũng cảm trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng, Cứu quốc dân,...là con em các tầng lớp bị áp bức, bóc lột, họ có lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần cách mạng triệt để, chí căm thù địch rất lớn, đã siết chặt và tập hợp họ thành một khối đại đoàn kết vững chắc, không kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi. Sau lễ thành lập, đội đã mở một bữa tiệc nhỏ chỉ có cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần chiến đấu gian khổ, khó khăn của các chiến sĩ cách mạng cứu nước, đội tổ chức "đêm du kích" liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.
Thực hiện theo Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: "Trong vòng một tháng phải có hoạt động. Trận đầu đánh nhất định phải thắng lợi". Khoảng 17 giờ ngày 25/12/1944 (ngay sau ngày thành lập), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã vô cùng sáng suốt, mưu trí, táo bạo đầy đột biến đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập vào đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và tịch thu tất cả số vũ khí, quân trang, quân dụng của chúng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần là một tiền đề tinh thần mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng, và ngày càng lớn mạnh về sau của tổ chức quân đội ta.
Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định đi đến thống nhất các lực lượng vũ trang trên cả nước làm một (Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác...) thành Việt Nam giải phóng quân; đẩy mạnh công tác tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi trên đất nước. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Đinh Biên Thương, Định Hóa, Thái Nguyên, Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, tên gọi là Việt Nam giải phóng quân.
Trên cơ sở đánh giá thời cuộc và tình hình cách mạng đang diễn ra ở trong nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân trên khắp cả nước đồng loạt vùng dậy khởi nghĩa giành lại chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành chiến thắng hoàn toàn. Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, đồng thời Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam và cho năm 1950 cho đến tận bây giờ có tên là Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - Đội quân chủ lực có sứ mệnh cao cả là giành lại độc lập dân tộc đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy làm thành Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trải qua bao nhiêu năm chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự trưởng thành của quân đội ta đã vượt bậc gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ giác ngộ, rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân gồm các cán bộ vô cùng gương mẫu, các chiến sĩ đã tiếp bước nhau để thực hiện sứ mệnh cao cả bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Campuchia láng giềng.
Năm 1989, theo Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 ngoài được lấy thành ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đó, cứ mỗi dịp 22/12 đến là toàn nhân dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động tiến tới chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu sắc, rộng rãi tinh thần chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc. Các hoạt động như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thể thao, triển lãm quân sự....được tổ chức ở khắp các làng, xã, cơ quan đoàn thể,....Những hoạt động này nhằm hướng tới mục tiêu động viên các cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao tinh thần cảnh giác, rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại khó khăn, gian nan, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Tổ chức nào được coi là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam? Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với quý bạn đọc.