1. Thế nào là bảo lãnh vay vốn?
"Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau Bảo lãnh là việc một bên thứ ba, sau đây được gọi là bên bảo lãnh, cam kết đối với một bên khác, sau đây được gọi là bên nhận bảo lãnh, rằng sẽ thực hiện các nghĩa vụ của bên được bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình đến thời hạn.
Bảo lãnh vay vốn thường bao gồm các điểm sau:
- Là một thỏa thuận giữa các bên, bao gồm bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (thường là Ngân hàng hoặc Công ty tài chính), và bên được bảo lãnh (người vay vốn).
- Nội dung của thỏa thuận là bên bảo lãnh cam kết sẽ chi trả nợ cho bên vay nếu bên vay không thực hiện việc thanh toán nợ gốc và lãi đến hạn với ngân hàng.
- Phạm vi của bảo lãnh có thể là một phần hoặc toàn bộ số tiền vay của bên vay, bao gồm cả lãi suất, phí trễ hạn, và các chi phí khác.
Do đó, trong ngữ cảnh của việc vay vốn từ ngân hàng, hợp đồng bảo lãnh thường là một thỏa thuận ba bên giữa bên vay, ngân hàng và bên bảo lãnh. Bên bảo lãnh thường đặt tài sản cá nhân của mình (như nhà, đất, hoặc ô tô) làm tài sản đảm bảo cho bên vay. Mặc dù nghĩa vụ thanh toán nợ vẫn thuộc về bên vay, nhưng trong trường hợp bên vay không có khả năng thanh toán, bên bảo lãnh sẽ phải chịu trách nhiệm chi trả số nợ đó.
Theo quy định trên, nếu bên được bảo lãnh (bên vay) không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đến Ngân hàng, thì bên bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay mặc dù đến hạn mà bên vay không thực hiện hoặc không thanh toán hết số nợ. Trong tình huống này, bên bảo lãnh sẽ phải chi trả số nợ còn lại thay cho bên vay.
Tuy nhiên, Điều 341 của Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê các trường hợp bên bảo lãnh được miễn khỏi nghĩa vụ bảo lãnh như sau:
- Bên nhận bảo lãnh (thường là Ngân hàng) được miễn khỏi việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tức là không phải trả nợ thay cho bên bảo lãnh.
- Miễn bảo lãnh trong trường hợp có nhiều bên cùng bảo lãnh cho một người: chỉ một trong số các bên bảo lãnh được miễn khỏi nghĩa vụ bảo lãnh, trong khi các bên còn lại vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình.
- Một trong các bên bảo lãnh được miễn khỏi nghĩa vụ với một bên cụ thể: Người bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với các bên bảo lãnh khác.
Các căn cứ để bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ của mình được nêu tại khoản 1, Điều 44 của Nghị định 21/2021/NĐ-CP bao gồm:
- Bên được bảo lãnh (bên vay) không thực hiện việc thanh toán nợ đúng hạn.
- Bên vay không thanh toán nợ trước hạn theo thoả thuận.
- Bên vay không thanh toán đủ số nợ đã vay.
- Bên vay không thực hiện đúng nội dung của nghĩa vụ.
- Bên vay không có khả năng thanh toán nợ.
- Theo thoả thuận giữa các bên.
2. Các bên doanh nghiệp có quan hệ liên kết được hiểu như thế nào?
Theo quy định tại Điều 5, Khoản 1 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp tham gia giao dịch liên kết, các bên có quan hệ liên kết cụ thể được xác định như sau:
(1) Các bên có quan hệ liên kết (gọi tắt là "bên liên kết") là những bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia;
- Các bên trực tiếp hoặc gián tiếp chia sẻ sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.
Quy định cụ thể về các bên có quan hệ liên kết
Theo quy định tại Điều 5, Khoản 2 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp tham gia giao dịch liên kết, việc xác định các bên có quan hệ liên kết được quy định cụ thể như sau:
(2) Các bên liên kết theo điều này được xác định cụ thể như sau:
- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
- Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia;
- Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho vay vốn cho một doanh nghiệp khác dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện số tiền vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp vay;
- Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;
- Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;
- Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
- Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;
- Các doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của cá nhân này vào doanh nghiệp đó hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp;
- Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia;
- Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản này.
3. Trong kỳ doanh nghiệp không có các khoản nợ trung và dài hạn có được bảo lãnh cho doanh nghiệp khác vay vốn không?
Trong Công văn số 915/TCT-TTKT năm 2022 về việc xác định giao dịch liên kết trong công tác kiểm tra tuân thủ luật thuế của người nộp thuế, do Tổng cục Thuế ban hành, có quy định về trường hợp trong kỳ kinh doanh, doanh nghiệp không có các khoản nợ trung và dài hạn cụ thể như được quy định tại điểm d, Khoản 2 của Điều 5 của Nghị định 20/2017/NĐ-CP và điểm d, Khoản 2 của Điều 5 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP đã nêu trên, thì không áp dụng điểm này.
Do đó, chỉ khi trong kỳ kinh doanh, doanh nghiệp có các khoản nợ trung và dài hạn cụ thể theo tiêu chí quy định tại điểm d, Khoản 2 của Điều 5 của Nghị định 20/2017/NĐ-CP và điểm d, Khoản 2 của Điều 5 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP thì mới áp dụng điều này. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không đáp ứng các tiêu chí này, điều này sẽ không áp dụng.
Bài viết liên quan: Người bảo lãnh vay tiền có nghĩa vụ và trách nhiệm như thế nào?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Trong kỳ công ty không có các khoản nợ thì có được bảo lãnh không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết!