1. Trúng xổ số vietlott có phải tài sản chung của vợ chồng?

Chào Luật sư! Tôi có việc này mong Luật sư tư vấn giúp tôi. Hôm trước tôi nhận lương và khi đi qua quầy bán xổ số Vietlott mua 1 vé xem mình có may mắn hay không. Không ngờ lại trúng với số tiền gần 100 tỷ đồng, về nhà nói với vợ thì vợ tôi nói đây là tài sản chung của hai vợ chồng. Tôi không đồng ý với ý kiến đó của vợ tôi, đó là tiền lương của tôi và do tôi may mắn mới trúng được.

Vậy Luật sư cho tôi hỏi:

- Tài sản này có phải tài sản chung của hai vợ chồng hay không?

- Căn cứ theo điều nào, luật nào?

Rất mong Luật sư tư vấn, chân thành cảm ơn luật sư!

Trúng xổ số vietlott có phải tài sản chung của vợ chồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về tài sản chung, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Đối với tài sản của vợ chồng trong quá trình hôn nhân được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

- Tài sản chung của vợ, chồng là những tài sản sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

- Tài sản riêng của vợ,chồng là:

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Đối với trường hợp anh có trúng xổ số Vietlott với số tiền là gần 100 tỷ thì được quy định trong Nghị định 126/2014/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành luật hôn nhân và gia đình như sau:

Điều 9. Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

1. Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này.

2. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.

3. Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Do vậy, khoản tiền trúng sổ xố của anh là thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng nên cũng được coi là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 nêu trên.

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Chuyển tài sản chung cho con sau ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Hai vợ chồng tôi đã li hôn, hiện đang có một ngôi nhà là tài sản chung. Chúng tôi đã có một con gái năm nay 6 tuổi. Giờ hai vợ chồng tôi muốn chuyển ngôi nhà đó làm tài sản cho con gái chúng tôi thì cần những thủ tục và điều kiện gì?
Rất mong luật sư tư vấn cho tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Chuyển tài sản chung cho con sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn hôn nhân về chia tài sản chung, gọi:1900.6162

Trả lời:

Hiện nay theo quy đnh của pháp luật nếu như ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng bạn thì khi muốn cho con gái thì vợ chồng bạn cần làm hợp đồng tặng cho và phải có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hiện nay con gái của bạn mới 6 tuổi như vậy cháu chưa thể tự mình thực hiện các giao dịch dân sự (trong trường hợp này là hợp đồng tặng cho tài sản được). Vì vậy phải được thực hiện thông qua người giám hộ của cháu. Mà theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Như vậy người giám hộ có thể đại diện cho con của bạn thực hiện hợp đồng tặng cho với vợ chồng bạn. Như vậy khi ký hợp đồng tặng cho sẽ có hai bên: vợ chồng bạn và con bạn ( thông qua người giám hộ).

Trong tường hợp này sau khi thực hiện tặng cho thì người giám hộ sẽ có nghĩa vụ đối với ngôi nhà theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

Điều 59. Quản lý tài sản của người được giám hộ

1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.

Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này.

Về hồ sơ tặng cho bao gồm:

- Hợp đồng tặng cho có công chứng;

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho (như quy định trong mua bán nhà ở);

- Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).

- Bản sao Giấy khai sinh nếu các bên tặng cho có quan hệ gia đình như: cha mẹ, con, anh chị em ruột để làm cơ sở miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Về trình tự, thủ tục tặng cho nhà ở

- Bước 1: Làm hợp đồng tặng cho tại văn phòng công chứng kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở và chứng minh thư nhân dân.

- Bước 2: Bên nhận tặng cho nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện;

- Bước 3: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

- Bước 4: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế (nếu chủ nhà không thuộc diện phải nộp hoặc được miễn nộp nghĩa vụ tài chính thì không có bước này).

- Bước 5: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận;

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Có phải trả tiền cưới xin cho bên nhà chồng sau khi ly hông không ?

Thưa luật sư em tên Trinh, vợ chồng em cưới nhau được 10 năm và có một bé 7 tuổi. Thời gian qua chồng em không lo làm ăn chỉ lo chơi bời không lo cho vợ con.em phải đi làm để nuôi con và lo cho chồng. Với mức lương công nhân nên vợ chồng em ngày càng nợ nần, đã 3 năm nay vợ chồng em đã dần mất đi hạnh phúc. Cho đến nay em quyết định về nhà ba mẹ sống. Về phần con em thì ở nhà chồng học đến chiều thứ 6 thì em đón về nhà ngoại đến thứ 2 đưa cháu về học, em về nhà mẹ được 5 tháng rồi và cả 2 điều chấp nhận ký đơn thuận tình ly hôn. Về phần nợ hơn 30tr (ba mươi triệu) em tự trả.
Luật sư cho em hỏi thời gian sống với chồng vì chồng không làm việc nên gia đình thiếu hụt, vì thế gia đình mẹ em luôn chu cấp cho vợ chồng em, và thời gian gần đây em có đến với người khác điều đó chồng em cũng biết, cả 2 đã đồng ý ký đơn và thỏa thuận phần tài sản và nợ nần nhưng về con thì em và chồng em điều muốn giành quyền nuôi con. Nhưng theo cuộc sống 10 năm qua em thấy chồng em không có khả năng nuôi dạy cháu tốt.
Em mong Luật sư có thể giúp cho em biết về tình trạng bây giờ em có thể giành quyền nuôi cháu khi ra tòa ly hôn không ạ ?
Cám ơn luật sư rất nhiều.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê, dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Trong trường hợp của bạn, vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Một số căn cứ có thể được xem xét như: điều kiện sống từ lúc cháu sinh ra đến khi ly hôn; đạo đức, lối sống có ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu con sau này; điều kiện về kinh tế có thể bảo đảm cuộc sống cho con; điều điều kiện về chỗ ở và các điều kiện khác.

Về việc chia tài sản chung,

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, những tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, những tài sản chung đó sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Kính chào luật sư. Tôi tên là Ngân, 27 tuổi. Tôi xin được tư vấn về việc xin ly hôn. Tôi và chồng kết hôn năm 2010 và có một con gái 6 tuổi. Trong quá trình chung sống không hợp, phát sinh nhiều mâu thuẫn nên tôi gửi con về cho ông bà ngoại nuôi dưỡng khi cháu 1 tuổi. Và tôi đi học rồi đi làm tại Hàn quốc. Trong quá trình đi làm ở nước ngoài tôi vẫn chu cấp cho chồng và gia đình chồng riêng. Và chu cấp cho con gái tôi riêng. Hiện nay chồng tôi cũng đã đi lao động tại Hàn quốc. Nhưng chúng tôi không gặp nhau và xác định chia tay. Vì đã ly thân gần 2 năm nên chúng tôi không còn tình cảm và muốn ly hôn. Nhưng hiện tại cả tôi và chồng tôi đều lao động tại nước ngoài thì có thể ly hôn không ạ? Và phải làm thủ tục như thế nào ạ? Luật sư có thể tư vấn giúp tôi không ạ? Tôi xin cảm ơn.

Bạn và chồng bạn phải về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn. Đối với ly hôn thuận tình, có thể nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi bạn hoặc chồng bạn cư trú.

Xin kính chào văn phòng luật sư, Em mới sang hàn theo diện visa kết hôn 15/3 tháng trc. Sống chung được hơn 1 tuần thì em thấy ko phù hợp và thích nghi với cuộc sống bên đó nên em đã bỏ ra ngoài. Hôm qua 24/4 em mới mua được vé về việt nam và ko muốn sang Hàn sống nữa. Vậy gia đình nhà chồng bên Hàn có về việt nam kiện nhà e được không và thủ tục pháp lý để theo kiện như thế nào ạ? Mong văn phòng luật sư cố gắng trả lời giúp e với a. Em chân thành cảm ơn ạ

Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Thu nhập tạo ra trong thời kỳ hôn nhân có là tài sản chung ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi có yêu cầu mong quý công ty tư vấn giúp tôi: Tôi và vợ tôi đã kết hôn từ năm 1995 đến nay. Vào năm 2008 vợ tôi có đi xuất khẩu lao động nước ngoài đến nay mới trở về. Trong thời gian vợ tôi đi làm ở nước ngoài tôi ở nhà chăm sóc các con, nhưng về tới Việt Nam, vợ tôi muốn làm đơn ly hôn với tôi. Vậy cho tôi hỏi: Nếu khi ra Tòa án làm đơn ly hôn thì thu nhập do lao động của vợ tôi tạo ra trong thời kỳ hôn nhân khi đang lao động làm việc tại nước ngoài có được xem là tài sản chung của vợ chồng không? Mong sớm nhận được phản hồi từ phía công ty, tôi xin cảm ơn!

Thu nhập do lao động của vợ tạo ra trong thời kỳ hôn nhân có được xem là tài sản chung của vợ chồng không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về tài sản chung, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê, dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, trong thời kỳ hôn nhân giữa hai vợ chồng bạn thì vợ bạn có ra nước ngoài làm việc một thời gian dài, bây giờ mới trở về Việt Nam. Bên cạnh đó, trong thời gian vợ bạn làm việc ở nước ngoài bạn đã ở nhà để chăm sóc các con. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân thì tài sản được tạo ra từ thu nhập do lao động thì tài sản này được xem là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Chính vì vậy, nếu hai vợ chồng của bạn có thực hiện thủ tục ly hôn tại Tòa án thì thu nhập do lao động của vợ bạn tạo ra trong thời kỳ hôn nhân vẫn được xem là tài sản chung của hai vợ chồng và sẽ được chia theo nguyên tắc sau:

- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

+ Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

-Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Gia đình cho tiền mua nhà thì có phải là tài sản chung không ?

Thưa luật sư, Em xin chào anh (chị). Anh chị cho em hỏi. Bây giờ hai vợ chồng em đang muốn mua nhà chung cư. Bên ngoại cho 800 triệu. Bên nội cho 200 triệu. Còn 200 triệu bọn e ra ngoài vay. Làm cách nào để e đứng tên bìa đỏ mà sau này giả sử có tranh chấp gì. Thì ngôi nhà đó vẫn là của em đc không ạ ?
Em cảm ơn anh chị nhiều!

Luật sư tư vấn:

5.1. Quy định về việc đứng tên trên sổ đỏ

Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Do bạn mua ngôi nhà trong thời kỳ hôn nhân (không phải được tặng cho riêng, thừa kế riêng...) nên ngôi nhà đó được coi là tài sản chung của vợ chồng bạn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 4 Điều 98 Luật đất đai năm 2013 thì đối với tài sản là quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn và chồng hoàn toàn có thể thỏa thuận với nhau về việc bạn sẽ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

5.2 Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung

Tham khảo nội dung hướng dẫn tại điểm b Mục 3, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. thì để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại Điều 43 (ví dụ: được thừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếc xe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng).

Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

Do vậy, để bạn có thể đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử đất, quyền sở hữu nhà mà khi có tranh chấp, căn nhà vẫn là của bạn thì bạn và chồng có thể lập văn bản thỏa thuận nội dung về này (trong đó nêu rõ: ngôi nhà do bạn mua bằng tiền riêng của mình hoặc bằng tiền bố mẹ hai bên cho riêng bạn không liên quan đến chồng bạn; bạn có toàn quyền làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng/sở hữu đối với tài sản riêng đó; sau khi hoàn thành thủ tục sang tên, bạn sẽ có toàn quyền sử dụng, định đoạt...). Để đảm bảo về mặt pháp lý của văn bản, bạn có thể đến văn phòng công chứng và yêu cầu công chứng văn bản đó theo Điều 38 Luật hôn nhân gia đình 2014.

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật….”

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vợ ở nhà chăm con, không có thu nhập thì phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?