1. Quy định về luật sư tiếp nhận vụ việc của khách hàng
Quy định về tiếp nhận vụ việc của khách hàng theo Quy tắc 10 trong Bộ quy tắc ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019 như sau:
- Khi được khách hàng yêu cầu tiếp nhận vụ việc, luật sư cần nhanh chóng trả lời cho khách hàng biết về việc có tiếp nhận vụ việc hay không.
- Luật sư không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, tuổi tác, sức khỏe, khuyết tật, tình trạng tài sản của khách hàng khi tiếp nhận vụ việc. Trường hợp biết khách hàng thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí thì luật sư thông báo cho họ biết.
- Luật sư chỉ nhận vụ việc theo điều kiện, khả năng chuyên môn của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu hợp pháp của khách hàng.
- Luật sư có nghĩa vụ giải thích cho khách hàng biết về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong quan hệ với luật sư; về tính hợp pháp trong yêu cầu của khách hàng; những khó khăn, thuận lợi có thể lường trước được trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý; quyền khiếu nại và thủ tục giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với luật sư.
- Khi nhận vụ việc của khách hàng, luật sư phải ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong hợp đồng dịch vụ pháp lý phải xác định rõ yêu cầu của khách hàng, mức thù lao và những nội dung chính khác mà hợp đồng dịch vụ pháp lý phải có theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp nào luật sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng?
Căn cứ theo Quy tắc 13 trong Bộ quy tắc ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019 thì luật sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc trong các trường hợp sau đây:
- Khách hàng đưa ra yêu cầu mới mà yêu cầu này không thuộc phạm vi hành nghề luật sư hoặc trái đạo đức, trái pháp luật.
Trong quá trình luật sư đảm nhận thực hiện theo yêu cầu của khách hàng thường xuất hiện các yêu cầu mới không thuộc phạm vi hành nghề luật sư hoặc trái với đạo đức và pháp luật. Ví dụ, có luật sư khi nhận bào chữa trong một vụ án mà khách hàng bị quy buộc tội danh “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong thời gian phiên tòa đang diễn ra, bỗng luật sư theo yêu cầu của khách hàng, xuất trình một biên nhận chứng minh khách hàng đã trả tiền cho người bị hại. Hội đồng xét xử quyết định tạm dừng phiên tòa, yêu cầu luật sư xuất trình bản chính để người bị hại đối chiếu, sau đó người bị hại cho rằng chữ ký trong giấy nhận tiền nói trên không phải là chữ ký của mình. Luật sư khi tiếp nhận tài liệu này ban đầu hoàn toàn không biết là giấy biên nhận đã bị khách hàng giả mạo chữ ký của người bị hại, khi có kết quả giám định chữ ký theo yêu cầu của Tòa án, giấy biên nhận tiền nói trên bị coi là giả mạo. Tuy nhiên, với trình độ và hiểu biết về pháp lý, luật sư không thể nói rằng mình hoàn toàn không biết hành vi nói trên của khách hàng là sai trái vì luật sư phải hỏi rõ nguồn gốc hình thành giấy biên nhận, phải đánh giá, xem xét ban đầu về chữ ký của người bị hại. Vô hình trung, luật sư tự đặt mình vào thế khó, có thể còn bị quy kết cung cấp bằng chứng giả mạo cho Tòa án.
Về nguyên tắc thì luật sư phải tin khách hàng thì mới có thể đảm nhận vụ việc, nhưng nếu tin tưởng toàn bộ mà không xem xét, đánh giá hồ sơ, tài liệu do khách hàng cung cấp thì rủi ro sẽ thuộc về mình. Trong trường hợp nếu yêu cầu của khách hàng là yêu cầu mới, nằm ngoài phạm vi hợp đồng thì luật sư có thể từ chối hoặc thỏa thuận với khách hàng bổ sung bằng phụ lục hợp đồng dịch vụ pháp lý. Nếu yêu cầu này là trái với pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, luật sư cần nói rõ và từ chối yêu cầu của khách hàng.
- Khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn giải quyết vụ việc đúng pháp luật, phù hợp với đạo đức do luật sư đưa ra, mặc dù luật sư đã cố gắng phân tích thuyết phục.
Vì luật sư luôn dựa trên pháp luật và trách nhiệm đạo đức để tư vấn cho khách hàng. Vì dựa trên căn cứ pháp luật nên trong một số trường hợp, khách hàng không thỏa mãn hoặc đồng ý, cho rằng luật sư không bảo vệ tối đa lợi ích của mình hoặc chỉ “thuần lý”, không tính đến hoàn cảnh, yêu cầu của khách hàng. Trong trường hợp này, ứng xử đạo đức của luật sư là phải kiên trì giải thích và thuyết phục khách hàng rằng quyền lợi của khách hàng chỉ có thể được bảo vệ khi đó là quyền lợi hợp pháp và chính đáng, dựa trên cơ sở pháp luật. Nếu khách hàng không đồng ý, luật sư cần đưa ra các giải pháp cho khách hàng lựa chọn, nếu khách hàng vẫn không đồng ý thì cần trao đổi thẳng thắn, có thể từ chối không tiếp tục thực hiện, chấm dứt và giải quyết các hệ lụy phát sinh từ hợp đồng dịch vụ pháp lý.
- Khách hàng vi phạm cam kết theo hợp đồng dịch vụ pháp lý mà các bên không thể thỏa thuận được hoặc quan hệ giữa luật sư với khách hàng bị tổn hại không phải do lỗi của luật sư.
Quan hệ cung cấp dịch vụ pháp lý giữa luật sư với khách hàng được thể hiện thông qua hợp đồng, trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Không thể nói đã là khách hàng thì chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ, nếu vi phạm các cam kết hay nghĩa vụ trong hợp đồng thì khách hàng cũng phải chịu trách nhiệm với luật sư . Trong quá trình làm việc, khách hàng và luật sư đều cần có sự tôn trọng lẫn nhau, quyền và nghĩa vụ được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, công bằng và hợp lẽ phải. Chỉ trong trường hợp không còn phương án nào khác, khách hàng vẫn kiên quyết không thực hiện nghĩa vụ của mình, dẫn đến quan hệ giữa hai bên xấu đi, không khắc phục được thì luật sư có quyền từ chối thực hiện công việc đang được tiến hành.
- Có sự đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng hoặc người khác buộc luật sư phải làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp
Trong thực tế, vẫn có nhiều trường hợp luật sư phải chịu nhiều đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng hoặc người khác buộc luật sư phải làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Sự đe dọa đó có thể chỉ là uy hiếp về tinh thần, lấy lợi ích vật chất dẫn dụ luật sư làm điều sai trái, thậm chí có khách hàng nhờ cậy luật sư nhưng lúc nào cũng ghi âm lời nói, trao đổi trên điện thoại hay hình ảnh sinh hoạt cá nhân của luật sư. Đứng trước những áp lực đó, luật sư không chỉ cần bình tĩnh để nhận diện và đánh giá đúng tình hình, mà còn phải cân nhắc và đi đến quyết định sẵn sàng từ chối tiếp tục thực hiện công việc đã giao kết với khách hàng.
- Có căn cứ xác định khách hàng đã lừa dối luật sư.
Quy tắc này đòi hỏi luật sư phải xác định có căn cứ rằng khách hàng đã lừa dối mình, đưa ra các thông tin, tài liệu, chứng cứ giả mạo hoặc sai lệch, bịa đặt tình huống, hoàn cảnh không có thật, thực hiện hành vi tội phạm nhưng lại cho rằng mình bị oan ức… Không phải ngay từ đầu luật sư đã có thể phát hiện sự lừa dối của khách hàng, mà chỉ thông qua quá trình làm việc, tiến trình tố tụng, với kết quả giám định khoa học kỹ thuật hình sự, luật sư mới phát hiện. Trong trường hợp này, luật sư có thể từ chối tiếp tục cung cấp dịch vụ.
3. Trường hợp luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng
Các trường hợp luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng theo Quy tắc 11 trong Bộ quy tắc ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019 gồm:
- Khách hàng thông qua người khác yêu cầu luật sư mà luật sư biết rõ người này có biểu hiện lợi dụng tư cách đại diện cho khách hàng để mưu cầu lợi ích không chính đáng làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của khách hàng.
- Khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của luật sư mà luật sư biết rõ khách hàng có ý định lợi dụng dịch vụ đó cho mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc khách hàng không tự nguyện mà bị phụ thuộc theo yêu cầu của người khác.
- Có căn cứ rõ ràng xác định khách hàng đã cung cấp chứng cứ giả hoặc yêu cầu của khách hàng trái đạo đức, vi phạm điều cấm của pháp luật.
- Vụ việc của khách hàng có xung đột về lợi ích theo quy định tại Quy tắc 15 trong Bộ quy tắc ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019.
Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Những vấn đề cần lưu ý khi tìm hiểu yêu cầu tư vấn của khách hàng. của Luật Minh Khuê.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Trường hợp nào luật sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email:lienhe@luatminhkhue.vnđể nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!