1. Yếu tố dân chủ trong xã hội phong kiến Việt Nam
Tiêu chí tự do, bình đẳng được xem xét ở đây là tiêu chí về các giá trị - quan điểm về tự do bình đẳng - nhất là giá trị đã hình thành trong truyền thống có ủng hộ việc cá nhân thụ hưởng quyền hay không?
Nói về truyền thống tự do, bình đẳng (yếu tố tạo nên nền dân chủ), các nhà nước cổ truyền Việt Nam đương nhiên không phải là những nhà nước dân chủ mà là những nhà nước quân chủ, nhưng trong nền quân chủ đó vẫn tồn tại những yếu tố dân chủ. Trước tiên, đó là truyền thống dân chủ làng xã. Trong lịch sử, các nhà nước sơ khai đều bảo tồn công xã và dựa vào công xã để quản lý xã hội, coi công xã như đơn vị cơ sở đảm đương nghĩa vụ nộp cống, làm lao dịch, binh dịch... nên đã dành cho làng một nền tự trị rộng rãi. Khi nhà nước trung ương phát triển thì nền tự trị của làng bị thu hẹp, song lệ làng vẫn là một công cụ hữu hiệu để thực hiện nền dân chủ làng xã mà phép vua không thể không tôn trọng. Người ta còn ví rằng hương ước như một bản hiến pháp của làng, còn hội đồng tộc biểu thì gần giống với quốc hội và hội đồng kỳ biểu thì giống như chính phủ. Sau lũy tre làng, người dân được sinh sống trong một thiết chế dân chủ sơ khai như vậy. Chỉ ra khỏi làng, dân mỗi chịu sự cương tỏa của bộ máy quan lại triều đình. Nhà nước trung ương chỉ nắm được làng chứ không nắm được người dân. Với hệ thống làng xã tự trị đó, người nông dân có được tư cách nửa tự trị hơn hẳn người nông nô lãnh địa Tây Âu thời đầu Trung đại. Vua có uy quyền như thần thánh nhưng luôn quan tâm đến đời sống dân chúng như người cha trong gia đình chứ không phải là bạo chúa. Vì vậy, có tác giả gọi đó là nền chuyên chế mềm. Học giả người Pháp C.E.Bouilevauv đã nhận định, trong xã hội An Nam đã có sự pha trộn giữa cường quyền và những quyền tự do quý báu.
2. Truyền thống dân chủ sơ khai trong nền quân chủ Việt Nam
Truyền thống dân chủ sơ khai trong nền quân chủ Việt Nam gắn liền với sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc đương thời và thực tế lịch sử đã chỉ rõ, một phong trào dân tộc rộng lớn bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố dân chủ nhất định. Như vậy, văn hoá chính trị truyền thông Việt Nam đã tồn tại những yếu tố dân chủ như Hồ Chí Minh từng nhận định: “một nền dân chủ mà dưới cái vẻ một quân chủ tuyệt đối vẫn hưởng quyền tự trị của làng xã, quyền tự do và chế độ học không mất tiền ở mọi cấp của giáo dục và đã gạt ra khỏi đất nước mình chế độ phong kiến và tăng lữ. Đó là một dân tộc được thành lập trên cơ sở thống nhất ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc và phong tục. Cuối cùng theo lời thừa nhận của những nhân vật Pháp, từ thời viễn cổ, người Việt Nam đã có một nền văn hoá đạo đức cao".
3. Tôn trọng phụ nữ là một trong những truyền thống quý báu của Việt Nam
Ở Việt Nam, tôn trọng phụ nữ là một trong những truyền thống quý báu được thể hiện qua sự ghi nhận công lao của những phụ nữ có công với đất nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyên Phi ỷ Lan, Thái hậu Dương Vân Nga... Ngay trong thời kỳ phong kiến, khi tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội thì một số quyền của phụ nữ đã được ghi nhận trong bộ Luật Hồng Đức: Điều 322 quy định “Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu lên quan để trả đồ sính lễ”. Đồng thời, luật này cũng có những điều khoản trừng phạt đối với những người chồng thiếu trách nhiệm đối với vợ. Điều 308 quy định “Chồng bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại thì vợ được quyền kiện lên quan để bỏ chồng. Nếu đã có con thì cho hạn một năm”. Việc quy định cho vợ có quyền bỏ chồng như vậy là điều khá hiếm hoi trong các xã hội truyền thống. Sang đến thời hiện đại, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều cố’ gắng nhằm đảm bảo sự bình đẳng giới và chống lại các hình thức phân biệt đối xử về giới (quy định trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân gia đình v.v...). Tiêu biểu trong những nỗ lực đó chính là việc phê chuẩn Công ước CEDAW (ngày 19/3/1982) và đặc biệt là việc ban hành Luật Bình đẳng giới.
4. Thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam
Rất nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế đều có một nhận xét chung: Việt Nam đã có rất nhiều hành động nhằm giảm bớt sự kỳ thị và bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Những hành động này thậm chí đã được thể chế hóa thành chính sách nhà nước, thành văn bản luật, đơn cử như Luật Bình đẳng giới được ban hành năm 2006, và mới đây là Luật Phòng chống bạo lực gia đình. Cũng không có nhiều nước trên thế giới mà các hành động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể của từng tỉnh thành, từng địa phương… như ở Việt Nam.
Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 2006 cho thấy, mức độ bình đẳng giới tại Việt Nam xếp thứ 11 trên thế giới. Chỉ số này thậm chí cao hơn nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới là Anh một bậc.
Theo báo cáo Khoảng cách giới tính toàn cầu năm 2007 mà Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, xét trong khu vực ASEAN và Đông Á, Việt Nam đứng ở ngôi vị thứ hai về mức độ bình đẳng giới.
Báo cáo mới nhất về thực hiện chương trình Mục tiêu thiên niên kỷ của Chính phủ nêu rõ Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vược bậc về bình đẳng giới. Địa vị của phụ nữ đã được nâng cao trong các mặt của đời sống xã hội, bình đẳng giới đã được tăng cường trong lĩnh vực lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo cũng như trong bộ máy chính quyền các cấp. Chính vì vậy mà Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia Đông Á có tốc độ khắc phục cách biệt giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Năm 2007 xếp hạng thứ 91/157 về chỉ số phát triển giới (GDI) và 52/93 về số đo trao quyền giới (GEM).
Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới, nạn ngược đãi phụ nữ vẫn còn tồn tại ở một số nơi, đặc biệt là ở những vùng, những khu vực trình độ dân trí chưa cao. Chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì vậy định kiến về giới còn tồn tại trong xã hội Việt Nam, kể cả ở một số bộ phận cán bộ.
Chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực. Đặc biệt là hiện nay, thu nhập bình quân của lao động nữ luôn thấp hơn nam giới.
Tỷ lệ nữ giới làm công tác quản lý, lãnh đạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng.
Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình. Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những vấn đề khác như bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục.