1. Thế nào là tự do hiệp hội?
Tự do hiệp hội là đặc tính xã hội, nhu cầu tự nhiên của con người muốn được quy tụ, được tập trung trong một tổ chức với những mối liên hệ gần gũi, chặt chẽ. Việc các cá nhân liên kết, tập hợp lại với nhau thành nhóm để hướng đến lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung thường được gọi là việc lập hội.
Tự do hiệp hội (hay “quyền tự do hiệp hội” – freedom of association) là một trong những quyền con người cơ bản được thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc tế và hiến pháp của hầu hết quốc gia. Nội hàm cơ bản của tự do hiệp hội được đề cập trong Điều 20 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR), theo đó, mọi người đều có quyền hội họp hòa bình và tự do hiệp hội; không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống cũng như hiện nay, các hội có hình thức rất đa dạng như phường hội, câu lạc bộ, quỹ từ thiện, hội, nhóm ... Từ những thế kỷ trước, tại nhiều địa phương đã tồn tại các phường hội nghề nghiệp (nghề thủ công, nghệ thuật và thương mại), hội tương hỗ (như Hội Hướng thiện đền Ngọc Sơn từ thế kỷ XIX) ... Từ thế kỷ XX, sinh hoạt của các hội đoàn càng phong phú, có nhiều hội, nhóm như hội cứu tế, công hội, nông hội, hội khuyến học, hội Khai Trí, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Cùng với những chuyển biến về kinh tế và xã hội, các hội đoàn ngày càng trở nên đa dạng và có vai trò quan trọng hơn đối với sự phát triển của quốc gia, cũng như góp phần bảo đảm công bằng xã hội
Nguyên tắc cơ bản đó của tự do hiệp hội đã tiếp tục được khẳng định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế sau này.
Các hội có thể không có (không cần) tư cách pháp nhân hoặc có tư cách pháp nhân (để thuận tiện cho việc giao dịch, ký hợp đồng). Cũng cần lưu ý rằng, quan niệm về “tư cách pháp nhân” có sự khác nhau tại các quốc gia. Các hội đó có thể là các câu lạc bộ, hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn, tổ chức tôn giáo, chính đảng hoặc công ty. Do sự đa dạng của các nhóm, pháp luật các quốc gia thường có quy định điều chỉnh riêng một số nhóm, hội bằng các luật riêng như: luật về doanh nghiệp - công ty, luật về công đoàn - nghiệp đoàn, luật về các đảng phái chính trị.
2. Tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội
Quyền thành lập và gia nhập hội:
Nội dung chủ yếu của tự do hiệp hội là quyền thành lập và gia nhập các hội, tức là quyền tự do nói chung của cá nhân trong việc liên kết với các nhóm theo lựa chọn. Các quyền này được ghi nhận trong cả hai công ước nhân quyền quốc tế quan trọng nhất là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ICCPR (Điều 22) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ICESCR (Điều 8), bao gồm cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của bản thân với tư cách là người lao động hoặc người sử dụng lao động. Ngoài ra, Công ước quốc tế về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức của Tổ chức Lao động Quốc tế 1948 (Công ước ILO 87) cũng xác định mọi người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức do họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước.
Về chủ thể của quyền, Điều 22 ICCPR ghi nhận tất cả mọi người đều được hưởng tự do hiệp hội. Điều đó có nghĩa là chủ thể của quyền này không bị giới hạn công dân, mà còn bao gồm cả người nước ngoài và người không quốc tịch đang sinh sống hợp pháp ở một quốc gia. Cách hiểu này tương thích với quy định của Điều 2 ICCPR về không phân biệt đối xử và các Nghị quyết 15/21, 21/16, 24/5 của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc.
Quyền hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can thiệp phi lý:
Quyền hoạt động tự do của các hội tương ứng với nghĩa vụ của các nhà nước trong việc tôn trọng, thực thi và bảo vệ tự do hiệp hội. Luật nhân quyền quốc tế đòi hỏi các nhà nước có nghĩa vụ thực thi các biện pháp chủ động và thụ động nhằm đảm bảo các quyền tự do căn bản, trong đó có tự do hiệp hội.
Theo Điều 17 ICCPR, các nhà nước có nghĩa vụ kiềm chế, không can thiệp vào công việc nội bộ của hội và tôn trọng quyền riêng tư của hội. Cụ thể, các nhà chức trách không được đặt điều kiện cho các quyết định và những hoạt động của hội; đảo ngược kết quả bầu cử thành viên ban lãnh đạo; đặt điều kiện trong ban lãnh đạo của hội phải có sự hiện diện của đại diện chính phủ; yêu cầu các hội nộp báo cáo (kiểm duyệt) trước khi xuất bản; hoặc yêu cầu nộp kế hoạch hoạt động để thông qua trước. Các cơ quan độc lập có quyền xem xét các báo cáo của hội như là một cơ chế đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, nhưng một thủ tục như vậy không được tùy tiện và phải tôn trọng nguyên tắc không phân biệt đối xử và quyền riêng tư.
3. Pháp luật Việt Nam về tự do hiệp hội
Hiện nay, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền… hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cách quy định này khiến cho các quyền được nêu tên, trong đó có quyền lập hội, có nguy cơ bị hạn chế, thu hẹp bởi các văn bản quy phạm pháp luật cấp thấp hơn (như luật, nghị định, thông tư).
Nhìn chung, khuôn khổ pháp lý về quyền tự do hiệp hội ở Việt Nam vẫn mang nặng tính hành chính, coi trọng sự quản lý thuận tiện của cơ quan nhà nước, chưa quan tâm nhiều đến tự do ý chí, tự do thỏa thuận của người dân. Bên cạnh đó, vẫn thiếu sự bình đẳng giữa các công dân trong hoạt động hiệp hội, cũng như thiếu sự bình đẳng giữa các hội.
Trên thực tế, hiện có bảy hình thức tổ chức xã hội dân sự (phi lợi nhuận) phổ biến nhất là: hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, cơ sở bảo trợ xã hội, tổ chức khoa học và công nghệ, hội có tính chất đặc thù (28 hội), các hội chính trị xã hội (thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), tổ chức phi chính phủ quốc tế. Bên cạnh đó, trong những năm qua, nhiều nhóm, câu lạc bộ, mạng lưới, diễn đàn… được thành lập, quyền tự do hiệp hội được thực thi khá sôi động trong thực tiễn.
Tuy nhiên, địa vị pháp lý của nhiều nhóm, hội thiếu rõ ràng hoặc gặp khó khăn khi thực thi các thủ tục theo luật định. Chẳng hạn, nhiều nhóm Hướng đạo đang dần khôi phục, thành lập mới, chủ yếu tại miền Trung và miền Nam, nhưng việc sinh hoạt (hội trại, tổ chức qua đêm…) của các nhóm này, cũng như việc tái lập Hội Hướng đạo Việt Nam còn gặp khó khăn.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tự do hiệp hội là gì? Tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!