NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Các giai đoạn La Mã cổ đại:
Nhà nước La Mã xuất hiện tương đối sớm và trải qua một thời kỳ phát triển lâu dài với ba giai đoạn chủ yếu: Giai đoạn là công xã còng nghiệp nông nghiệp lạc hậu (agre civitas), giai đoạn cộng hòa chiếm nô và giai đoạn đế chế. Lịch sử của La Mã cổ đại gắn liên với cuộc đấu tranh gay gắt giữa các tang lớp xã hội từ khi quan hệ thị tộc bộ lạc bước vào giai đoạn tan rã hoàn toàn, và đúng như C.Mác đã nhận xét: “Có thể hoàn toàn coi lịch sử bên trong của Nhà nước cộng hòa La Mã là cuộc đấu tranh của tiểu điền chủ với đại điên chủ”, “giữa nô lệ và chủ nô”, “giứa quý tộc thị tộc và thương nhân giàu có”. Từ cuộc đấu tranh này các giai cấp xã hội đã đưa ra một sô' tư tưởng chinh trị pháp luật chủ yếu đế biện minh cho chính thể đương thời; hay để phủ nhận chính thế đó mà hưóng tới thay đổi những trật, tự cố hữu trong đời sống xã hội đầy mâu thuẫn.
2. Tư tưởng chính trị của tầng lớp bị áp bức
Có thê nêu ra một số tư tưởng chính trị pháp lý chủ yếu sau đây:
Trước hết đó là tư tưởng chính trị của tâng lớp những người bị áp bức mà chủ yếu là nô lệ và nống dàn bị phá sản. Chúng được nảy sinh trong những cuộc khởi nghĩa có quy mô rộng khắp, chẳng hạn ở Sisile vào thê' kỷ II TCN. Tại đây, những người lãnh đạo khơi nghĩa đã hướng tang lớp nghèo khổ vào mục đích thành lập Nhà nưốc công bàng. Đây là hình thức Nhà nước kết hợp những nguyên tắc đân chủ mà quân chủ trong sự thể hiện quyền lực, theo đó người đứng đầu Nhà nước là một “vị minh quân” vầ cùng với “hội đng” nhđng người có “trí tuệ xuất sắc nhất” đê nắm quyền lập pháp và hành pháp, lựa chọn “minh quân”. Nhà vua vầ hội đÔng mà nhân dân thành lập lấy mục đích bảo vệ Nhà nước và quyền lợi những người nghèo khổ làm tiêu chí hoạt động.
Mặc dầu vì những hoàn cảnh khách quan và chủ quan, những tư tưởng trên đây đã không thực hiện được, song giá trị của chúng thể hiện ở chỗ chúng là những quan niệm chính trị nền tảng của phong trào nổi dậy ở các khu vực dân cư bị người La mã chinh phục, như ở vùng tiểu Á (năm 129- 123 TCN) v.v... và nhất là phong trào đấu tranh của chính những người tự do bị bần cùng hóa ở ngay La Mã. Cuộc đấu tranh của những người này có mục đích dân chủ hóa Nhà nước La Mâ nhằm thiết, lập một chính thể công bằng và hợp lý, và đã chuẩn bị điều kiện xã hội cho sự ra đời của tư tưởng chính trị của hai anh em nhà Grakhơ.
2.1 Tư tưởng chính trị pháp lý của Tibêri Grakhơ
Tibêri Grakhơ là một nhà tư tưởng thực tiễn, là người đã tiếp tục phát triển quan điểm công bằng sở hữu ruộng đất chông sở hữu lớn mà Xipiôn Emilian đã khởi xướng. Sinh ra trong một gia đình tiểu quý tộc dộng họ Xempriôn. Tổ tiên của ông cũng không ít lần giữ chức quan chấp chính và có ảnh hưởng tốt đến tư duy của ông, đặc biệt, là tư duy chính trị. Năm 133 TCN, khi được nhân, dân lựa chọn là người đứng đầu Tòa án, Tibêri Grakhơ đã nhanh chóng đưa ra một dự thảo luật điều chỉnh quan hệ sở hữu ruộng đất nhăm ngăn chận tình trạng chiếm đất công (ager pubblicus) từ phía tầng lớp giàu có.
Dự luật trên đây thể hiện tư tưởng chống bất công xã hội của Tibêri Grakhơ. Ông từng nói “những người La Mã đã chinh phục và chiếm giữ phần lổn đất đai. Hiện nay một vấn đề rất lổn đặt ra, liệu họ có thế được chiếm giữ chúng nữa hay không?”... “ngay cả hoang thú ở Italia cũng có hang, có ồ’ để náu mình, còn những người chiến đấu và hy sinh cho đất nứớc Italia lại không được quyền có ruộng đất. Họ phải sống lang thang với vợ con khắp nọi nẻo như những người du mục. Các thống chế lừa dối binh lính, khi ở chiến trường, người ta kêu gào hãy chiến đâ'u bảo vệ phân mộ và đen đài khỏi bị kẻ thù xâm phạm... phần đông những người La Mã không có bàn thờ tổ tiên, phần mộ cha ông. Họ hy sinh vì kẻ khác, vì sự giàu sang của kẻ khác”.
Tư tưởng trao quyền định đoạt sở hữu cho phần đông nhân dân đã làm lung lay chính quyền quý tộc và nghị viện và khiến lực lượng chính trị chông đối thù ghét. Năm 132 TCN, Tibêri cùng 400 người khác theo ông đã bị lực lượng quý tộc giàu có giết chết tại chính nơi ông tham gia ứng cử vào cơ quan quyền lực một lần nứa tại Đại quảng trường (Forum).
Mặc đầu bị hãm hại, nhưng tư tưởng chính trị của Tibêri Grakhơ đã làm sôi động thêm cho phong trào đấu tranh của quần chúng bị áp bức, và tư tưởng đó lại được người em trai của ông là Gai Grakhơ tiếp tục phát triển trong cuộc chiến chống viện nguyên lâo (Senat) để thành lập khối liên minh rộng lớn giữa nông dân, thị dân và hiệp sỹ.
2.2 Tư tưởng chính trị pháp lý của Gai
Kê' thừa những tư tưởng vì nhân dân lao khổ của Têbêri, nàm 123 TCN, khi được bầu làm người đứng đầu Tòa án, Gai đã nhanh chóng đưa ra một số dự luật quan trọng, trọng đó đáng lưu ý là dự luật giảm 50% giá bầnh mỳ, dự luật cho phép người nghèo đi xem nhà hát, dự luật về quyền được trả tô thuế băng tiên áp dụng cho dân Tiểu Á, dự luật chuyển giao quyền xét xử từ tay viện nguyên lão cho tầng lớp các hiệp sỹ v.v...
Ý nghĩa quan trọng của những dự luật trên đây (dù chúng chưa được thực hiện một cách triệt để) thể hiện đầy đủ tư tưởng chính trị pháp luật công bằng phi bạo lực và nó đã có một ảnh hưởng lón tới quá trình hoàn thiện Nhà nước theo khuynh hướng dân chủ nảy sinh trong cuộc đấu tranh gay gắt giữa các thế lực chính trị đốì kháng ở La Mã.
2.3 Tư tưởng chính trị pháp lý của Tít Lucrexơ Caruxơ
Chuẩn mực của hệ tư tưởng thứ nhất mà anh em Grakhơ khởi xướng đã đạt được trong nội dung các quan điểm chính trị của nhà tư tưởng dân chủ chiếm nô nổi tiếng, triết gia vĩ đại của La mã ông Tít Lucrexơ Caruxơ (99 - 55 TCN). Tác phẩm chủ yếu của Tít Lucrexơ với tựa đề “vê nguồn gốc sự vật” có nội dung kế thừa những quan điểm duy vật của Epiquya vê sự vận động của vật chất, từ đó thể hiện nhđng luận cứ của ông vê con người và xã hội, Lucrexơ cho rằng khi vũ trụ xuất hiện thì muôn loài động thực vật cũng lần lượt phát sinh và tồn tại. Con người ở trạng thái tự nhiên lúc ban đầu cũng như các loài thú, đần dần do kinh nghiệm tích lũy được và do quan sát, con người biết phát hiện ra lửa, xây dựng nhà ở và may vá quần áo. Quá trình khai thác thiên nhiên đã đưa con người đến với hình thức tổ chức sơ khai là gia đình, rồi xã hội. Từ đó sở hữu cá nhân xuất hiện, bất công xâ hội trồ thành mối đe dọa đến quyên lợi của con người, cho nên họ đã thỏa thuận thiết lập Nhà nước, có thể nói mặc dầu những luận cứ của Lucrexơ còn đơn giản và chưa phải là một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp luật, nhưng giá trị lớn nhất của những luận cứ đó là sự phủ nhận những quan niệm duy tâm vê sức mạnh các thần linh khi nói vê nguồn gốc Nhà nước. Chính vì vậy, tên tuổi của Lucrexơ được nhắc tới nhiều lần trong học thuyết của Những nhà tư tưởng vê sau này, nhất là thời kỳ phục hưng, thậm chí C.Mác và Lê nin cũng đánh giá cao tư tưởng của Lucrexơ.
3. Tư tưởng chính trị pháp lý bảo vệ giai cấp chủ nô thống trị
Hệ tư tưởng chính trị pháp luật thứ hai ở La Mã cổ đại xuất hiện trong bối cảnh nền cộng hòa chiếm nô bước vào giai đoạn khủng hoảng và Điều kiện xuất hiện thiết chế quân chủ đã chín muồi. Hệ tư tưởng này hướng tới mục đích bảo vê quyền lợi của giai cấp chủ nô thống trí.
Người đại diện xuất sắc cho hệ tư tưởng này là Maccơ Tunli Xixêrông (106 - 43 TCN) nhà tư tưởng trong giới quý tộc chủ nô, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, người đã từng tham gia ứng cử thống chế năm 64 TCN, và người được nhận danh hiệu “người cha dân tộc”.
Tư tưởng của Xixêrông thể hiện một sự kết hợp từ nhiều quan điểm của Aristốt, Platôn và của một số triết gia quý tộc với nội dụng xuyên suốt là bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thô'ng trị, vì vậy có thể nêu một cách tóm tắt những quan điểm chủ yếu của ông như sau:
Trước tiên, khi nói vê nguồn gốc Nhà nước, Xixêrông cho rằng khuynh hướng “liên minh, liên kết tạo ra Nhà nước” của con người là khuynh hướng tự nhiên, có ý nghĩa không phải do sự bất bình vê vị trí tài sản mà con người cần tới công cụ Điều chỉnh là Nhà nước. Cho nên Nhà nước “là công việc chung của nhân dân”, nó đòi hỏi sự tham gia tích cực của mọi người.
Để biện minh cho chính sách độc tài của những người đứng đầu Nhà nước, nhất là Xêda người đã thiết lập nền bạo chính trên cơ sở xóa bở mọi nguyện tắc dân chu sơ khai của nên cộng hòạ, Xixêrông coi bạo quyền là con đẻ của hoàn cảnh. Ông từng nói: “chúng ta là nô lệ của Xê da, và Xê da là nô lệ của hoàn cảnh”.
Chức nàng cơ bản thư hai của Nhà nước, theo Xixêrông là bảo vệ tài sản cho cá nhân con người trước nguy cơ bị xâm phạm. Trong cương lĩnh chính trị mà ông nêu ra với tên gọi “sự nhất trí đẳng cấp” đÔng nghĩa với sự kêu gọi tập hợp lực lượng chủ nô trong cuộc đấu tranh chống lại cuộc nổi dậy của quần chúng lao khố. Còn với quần chúng lao khổ mà ông vẫn hay gọi là “bọn hèn yếu thì ông kêu gọi phải thực hiện nghĩa vụ tối thượng là tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
Xixêrông phân biệt ba hình thức Nhà nước chủ yếu: Nhà nước dân chủ, quý tộc và quàn chủ. Ông coi: “Chế độ dân chủ là mệt trong những thế chế Nhà nước xấu xa nhất ”vì răng" không có gì ghê tớm hơn sự độc đoán của đám đông, không có gì ngụy hại hơn đám đông ngộ nhận mình là nhân dân". Mặc dù có khuynh hướng ủng hộ một hình thức .Nhà nước “xáo trộn” như kiểu Nhà nước mà Pôlibi đã nhắc tới trước đây, nhưng về Cơ bản, Xixêrông vẫn ca ngợi hình thức Nhà nước quân chủ. Theo ý kiến ông thì Nhà nước quân chủ là sự đảm bảo cho trật tự xã hội. Đứng đâu Nhà nước quân chủ là một vị “minh quân” giông như một gia chủ trong gia đình vậy. Vị “minh quân” này có quyền định đoạt tất cả, thậm chí có quyền chinh phục Những kẻ khác “cần phải chinh phục” nhằm tiến tới một sự thô'ng nhất trên phạm vi toàn thế giới. Khi điều hành Nhà nước, vị “minh quân” sử dụng một công cụ thường nhất là quy phạm pháp luật dựa trên lợi ích của những người hữu hạn. Xixêrông coi việc thực hiện pháp luật từ phía nhân dân như một trách nhiệm tối thượng. Ông nói: “Nhân dân phải coi pháp luật như là chốn nương thân của mình”.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!