NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Tư tưởng chính trị pháp lý của những nhà khắc kỷ:

Hệ tư tường thứ ba (đối lập với hệ tư tường thứ hai) thuộc về những nha khắc kỷ, những người truyền bá quan niệm hãy từ bỏ mọi hình thức đấu tranh chính trị mà quan tâm đến việc tu dưỡng đạo đức hoặc chấp nhận định mệnh V.V.. Hệ tư tưởng chính trị này cũng được thể hiện theo hai hướng cơ bản:

1.1 Hướng tư tưởng khắc kỷ thứ nhất:

Một hướng tư tưởng thì khẳng định chế độ chiếm nô là chế độ bất biến, Là trật tự có tính thiên định được Luxiut Xênêca (3-6 SCN) thể hiện một cách khá rõ nét trong những tác phẩm mỹ học, Khắc kỷ. Luxiut Xênêca rút ra một sô' kết luận phê phán chuyên quyền, kêu gọi hãy coi nô lệ như là con người, tuy là con người với số mệnh phải là nô lệ - là “bọn hạ lưu”. Muốn bảo đảm được một trật tự xã hội chiếm nô toàn cầu, Xênêca yêu câu coi vai trò của nguyên lão viện có một vị trí quan trọng.

1.2 Hướng tư tưởng khắc kỷ thứ hai:

Hướng tư tưởng khắc kỷ thứ hai thì phản ánh sự phản kháng tièu cực của các tâng lớp bị áp bức trong xã hội La mã, những người đã mất niềm tin vào khả năng thoát khỏi ách áp bức bằng con đường đấu tranh tích cực. Họ tự an ủi mình bằng giái pháp chính trị râ't thụ động. Điều này được thể hiện trong các quan niệm Êpichtêt (khoảng năm 50-238). Mặc dầu Êpichtêt nghiêm khắc phê phán chế độ chiếm nô, căm ghét sự giàu có và Ị6Ì sống xa hoa của bọn người quý tộc nhưng ông lại không kêu gọi mọi người vùng dậy thiết lập trật tự mới mà ngược lại ông thuyết phục hãy thực hiện một trách nhiệm duy nhất là hoàn thiện phâm giá đế giđ cho tinh thần vững vàng trong mọi tình thế xã hội. Dựa vào những quan niệm của nhiêu nhà Khắc kỷ đương thời như Mark Avơ-reli, Ệpichtêt đưa ra luận thuyết về cái gọi là “tôi tồn tại mà không tồn tại Tôi đang sống mà như là đống tro tàn” - để thuyết phục tầng lớp nghèo khổ hãy giữ thái độ thờ ơ với những biến động xâ hội".

Trên thực chất tư tưởng chính trị Khắc kỷ phản ánh một giai đoạn phát triển của Nhà nước La mã, khi những nguyên tắc dân chủ sơ khai bị xóa nhòa bởi sự gia tăng tính chuyên chế từ phía giai cấp thống trị. Sự bế tắc trong đời sống chính trị làm nẩy sinh những quan điểm trên đây là một thực tế không thể phủ nhận được. Nếu đánh giá ý nghĩa của chúng thì có thể cho rang: tư tưởng Khắc kỷ cũng là một phản ứng chính trị trước nguy cơ nên cộng hòa bị đe dọa nghiêm trọng.

2. Hệ tư tưởng chinh trị thứ tư được thể hiện trong các quan điểm lập pháp của các luật gia La mã.

2.1 Tư tưởng của các luật gia La Mã

Có thể nói, các luật gia La Mã đã có những đóng góp rất quan trọng vào kho tàng lý luận vê Nhà nước và pháp luật, mà cho đến nay vẫn còn có giá trị rất lớn. Trước hết, dù đứng trên các quan điểm khác nhau về nguồn gốc và bản chất Nhà nước, nhưng các luật gia La Mã đã có những nhận định chung, phản ánh khá trung thành hiện thực khách quan. Theo họ, Nhà nước xuất hiện như là một Điều tất yếu, nó là công cụ hữu hiệu đế bảo vệ tài sản của các công dân dựa trên những nguyên tắc quyền lực xuất phát từ pháp luật, mà pháp luật lại chính là những quy tắc giao tiếp mang tính tổng thể, là tập quán dân sự phổ biến được nâng lên thành luật pháp, không ngừng hoàn thiện để đáp ứng kịp thời với sự phát triển của xã hội.

Ngay từ thời cộng hòa, các luật gia La Mã đã chia luật pháp thành hai hệ thống các quy phạm: công pháp và tư pháp (jus publicu và ius singulorum). Việc phân chia hệ thống pháp luật như trên fân đâu tiên được ông Unpia (TK IV - một luật gia nổi tiếng tiến hành. Ông coi tư pháp là các quy phạm báo vệ quyền lợi của từng cá nhân (“ad singulorum rei utilitatem”), còn công pháp thì bảo vệ công quyền (“adreiromani spectat”). Các quy phạm của tư pháp cũng được các luật gia chia thành ba loại cơ bản: luật tự nhiên (ius naturale), luật dân tộc (ius gentium) và luật công dân (iuscivile). Mỗi một loại nói trên có những đối tượng Điều chỉnh riêng biệt.

Những quyền năng mang tính tự nhiên được các luật gia coi là cơ sở các quyền còn lại. Theo họ thì quyền có tài sản và quyền bảo vệ tài sản thông qua hành vi khởi kiện (actioinrem). Kiện đòi vật là quyền tự nhiên cơ bản. Hành vi bảo vệ tài sản phải được Nhà nước thừa nhận và tôn trọng. Tuy nhiên không phải ai cũng có quyền năng nói trên, vì rằng chỉ có người tự do (người Qui rít - gốc La Mã là chủ yếu) mới được Nhà nước La Mã thừa nhận là những người có năng lực pháp luật.

Sự phân biệt về vị trí pháp lý của tầng lớp lao khổ sống trong Nhà nước La Mã thể hiện rất rõ nét trong các quy phạm của Luật, tự nhiên mà nhiêu luật gia La Mã là những người có công hoàn thiện.

Trong các quy phạm của ius civile có sự phân biệt năng lực pháp luật của các công dân La Mã. Riêng đốì với nô lệ thì họ bị coi như là công cụ lao động, một thứ “công cụ biết nói” instrument vocale.

Cùng với quá trình phát triển của thiết chế Nhà nước, các luật gia La Mã dần dân đã xa rời với những nguyên tắc lập pháp mà họ dã ra sức tuyên truỳên đó, chẳng hạn nguyên tắc “quan không được làm luật” (praetor facere non potest). Từ đó họ khẳng định quyên lực tối thượng của các vị hoàng đế, thừa nhận sức mạnh chi phối pháp luật của những người đứng đầu Nhà nước (“Solotus legibus est” - đứng trên pháp luật).

Ý nghía quan trọng nhất trong tư tưởng vê pháp luật của các luật gia La Mã là sự khẳng định mục đích Điều chỉnh của nó. Theo ý kiến của các luật gia thì một trong những mục đích qùan trọng của pháp luật là sự bảo đảm cho tính sính lợi của tài sản (“giá trị lưu thông của tài sản - Rex in commercii). Trách nhiệm thực hiện pháp luật của các công dân chính là hướng vào mục đích nói trên, cho nên tôn trọng pháp luật chính là tôn trọng quyền năng của mình. Như vậy, có thể cho rằng tư tưởng chủ đạo của các luật gia La Mã là tư tưởng pháp trị, lấy mục đích bảo vệ Chế độ tư hữu làm nên tảng vê lý luận chính trị pháp luật nói chung.

2.2 Các tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo:

Cuô'i cùng, khi phân tích các hệ tư tưởng chính trị - pháp luật của người La Mã không thể không đê cập tới tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo. Tư tưởng đó thể hiện một cách tương đối rõ nét trong giáo lý Thiên Chúa giáo Tiên kỳ (Thiên chúa giáo nguyên khai).

Trong tác phẩm “Bàn vê lịch sử Thiên Chúa giáo Tiên kỳ”, Ph. Ăngghen nhận xét rằng: “Thiên Chúa giáo xuất hiện như một phong trào của quần chúng bị áp bửc: ban đầu nó như là tôn giáo của nô lệ và người được trả tự do của những người nghèo khổ và các dân tộc vô quyền và bị chính phủ hoặc ỗ rải rác khắp La Mã”

Gíao lý Thiên Chúa giáo Tiên kỳ thể hiện một sự kết hợp tư tưởng vê một “thiên sứ” đã chịu nạn và phục sinh để cứu vớt loài người đang bị đày đọa tư tưởng này có trong tín ngưỡng nguyên thủy của người Ai cập, người Xiri và Phênixi, người Bã tư) với tư tưởng triết học Khẳc kỷ Hy Lạp. Nó là sản phẩm tan rã của thế giới cổ đại, sản phẩm sự xác lập một đê' chế thế giới đã dùng bạo lực để tước đoạt quyền năng của nhiêu dân tộc, tước đoạt quyền được đấu tranh vì phần tồn tại tốt lành trên trái đất.

Là một giáo phái Do Thái giáo xuất hiện trong một số công xã xứ ludei (Do thái) Palextin, Thiên Chúa giáo xuất hiện như một phản ứng lịch sử tất yếu của bộ phận cư dân các công xâ đó trước nguy cơ bị tước đoạt quyền lợi từ phía các giáo sỹ Do thái và người La Mã. Hình tượng chúa Giê su được coi như là “thiên sứ” có khả nâng chịu nạn thay cho họ (cứu thế) và sẽ xuất hiện để trừng trị bọn người độc ác (giáng thế), thiết lập" đô thành thượng đế" (nước Chúa).

Nếu xét tư tưởng Thiên Chúa giáo tiên kỳ là tư tưởng chính trị của bộ phận những người bị áp bức thì đó là tư tưởng chính trị mang tính thụ động, vì nếu tư tưởng Khắc kỷ kêu gọi xa lánh xã hội và cam chịu số’ phận thì Thiên Chúa giáo cũng kêu gọi sự chờ đợi, chờ đợi nhẫn nhục để được cứu vớt và phải tin vào điều sẽ xảy ra là Chúa sẽ Giáng thế đề đưa những ai tin Chúa đến với cõi vĩnh hằng.

Vàó thời tiền kỳ, các công xã Thiên Chúa giáo có một thành phần tương đối dân chủ. Thành phần công xã tương đô'i dân chủ. Tham gia công xã bao gồm tầng Iđp tiểu thủ công, những người được trả tự do và nô lệ. Cũng như một số quan niệm gân gũi, các tín đồ thiên chúa giáo tôn trọng sự nghèo khó và lao động. Mọi thành viên của công xã có nghĩa vụ lao động, không thỏa hiệp với đế chế, với bọn người quyền quý và giàu có, không tham gia các lễ hội có tính Nhà nước như lễ đăng quan hoàng đế, phủ nhận hệ tư tưởng triết học và khoa học của giai cấp thống trị. Có thể nói, các công xã viên đã coi nhau như “anh em, chị em” và chỉ tin vào “sự bình đẳng trong Chúa Giêsu mà thôi.

Tuy nhiên, tính chất dân chủ sơ khai của các công xã thiên chúa giáo chỉ tồn tại vào thời tiên kỳ. Dần dần các công xã đã thu hút một sô' tầng lổp khá giả và có tri thức hơn. Tư tưởng chính trị dân chủ sơ khai đã bị thay thế bởi tư tưởng chính trị Khắc kỷ. Sự phản úng gay gắt chế độ chuyên quyền được thay bằng lời kêu gọi hãy chấp nhận nó, còn nô lệ thì phải phụ thuộc vào ông chủ. Người giàu giờ đây không càn phải khước từ tài sản, và được cứu rỗi nếu tở ra từ thiện hơn. Các tín đồ đã bắt đâu cầu phúc cho hoàng đế. Sự thay đổi thành phần và sự lớn mạnh của các công xã làm nẩy sinh một bộ phận quản lý tín ngưỡng, và nhà thờ thiên chúa giáo đã xuất hiện như hậu quả tất yếu của quá trình vận dụng giáo lý vào cuộc sống tư tưởng và đời sống xã hội nói chung. Bộ phận quý tộc tăng lữ đã trở thành một thế lực, sức mạnh chính trị của họ thể hiện ở khả năng bao quát vê tổ chức và Điều hành công xã. Chính lúc này Thiên Chúa giáo đã trở thành một tôn giáo thế giới, một công cụ tư tưởng để củng cố thế lực của đế chế.

Tư tưởng chính trị thiên chúa giáo được thể hiện qua các học thuyết khẳng định tính thiên định của quyền lực, ca ngợi quyền lực như biểu hiện “ý chúa”, mọi sự vận động các quan hệ xã hội đêu dựa vào “trí tuệ toàn năng” của đấng cứu thế. Những học thuyết đó được gọi chung bằng khái niệm: “Các học thuyết thần quyên”. Mục đích cơ bản mà các học thuyết thân quyền muốn đạt tới là sự biện minh cho sự bất công xã hội, Nhà nước và pháp quyền của giai cấp bóc lột.

Học thuyết thần quyền còn có khuynh hướng chi phối quyền lực của đế chế La Mã, và tất cả những điều đó được thể hiện khá rõ nét trong các hoạt động của giám mục Avơreli Ôguytxtanh (354 - 430) ở Hippôn (Bắc châu Phi).

Trước hết Ôguytxtanh khẳng định rằng chế độ nô lệ do Chúa định là trường tôn và bất diệt, “kẻ nô lệ phải là nô lệ vì những tội lỗi của mình”. Sự giàu nghèo hiện còn là do Chúa tạo ra để giúp đỡ người nghèo và thử thách người giàu.

Sự tồn tại song song hai hình thức Nhà nước: Giáo hội (tượng trưng nước Chúa) và Nhà nước thế tục là sự tồn tại bất dịch theo trật tự “Nhà nước của Chúa” cao hơn Nhà nước thế tục. Vì vậy Nhà nước của các hoàng đế phải phụ thuộc vào giáo hội, có nhiệm vụ bảo vệ giáo hội để tiêu diệt tà đạo".

Tư tưởng chính trị của Avơreli Ổguyxtanh mở đầu cho giai đoạn xuất hiện và phát triển của Thần học, và các học thuyết chính trị - pháp luật thời kỳ sau La Mã đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết “đế chế thần quyền”, và chế độ phong kiến - một hình thái kinh tế - xã hội sau chế độ chiếm nô, đã biện minh và bảo vệ băng chính các học thuyết “thần quyền” nói trên.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê