Luật sư tư vấn giúp em bên em có phải làm đơn giải trình lên cơ quan thuế về việc thay đổi này hay không ?

Mong Luật sư tư vấn giúp! Xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Thuế, gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn:

Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường gồm :

- Hàng mua đang đi trên đường

- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ

- Sản phẩm đang dở dang

- Thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi bán

- Hàng hóa được lưu giữ tại kho bảo thuế của doanh nghiệp

Phương pháp tính giá xuất kho

Tính giá xuất kho là công việc mà kế toán cần phải làm để đưa ra mức giá phù hợp cho hàng hóa bán ra và cả hàng tồn kho ở cuối kỳ. Phương pháp tính giá xuất kho được sử dụng nhằm mục đích để đảm bảo doanh nghiệp doanh nghiệp vừa có thể bán đi hàng hóa với mức giá phù hợp, không gây lỗ cho công ty vừa giải quyết hiệu quả tình trạng tồn đọng hàng hóa.

Tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà kế toán cần lựa chọn và đưa ra phương pháp tính giá xuất kho phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp tính giá cần đảm bảo đúng nguyên tắc nhất quán trong hạch toán vừa dễ dàng trong việc tính toán.

Về cơ bản có 4 phương pháp để tính giá xuất kho mà doanh nghiệp thường áp dụng: Phương pháp nhập trước xuất trước; Phương pháp nhập sau xuất trước; Phương pháp bình quân gia quyền và Phương pháp thực tế đích danh

Theo Thông tư 200/2014/TT-BTCThông tư 133/2016/TT-BTC thì có 3 phương pháp tính giá xuất kho, đó là :

+ Phương pháp bình quân gia quyền

Với phương pháp này, kế toán cần tính giá đơn vị bình quân có thể. là bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước hoặc sau mỗi lần nhập. Rồi lấy bình quân đã tính nhân với số lượt xuất kho

+ Phương pháp tính theo giá đích danh

Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hoá mua vào, từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.

Với phương pháp này, hàng hóa xuất kho thuộc lô hàng nhập lần nhập nào sẽ lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính toán. Đây được xem là phương pháp tốt nhất với các kế toán vì nó tuân thủ các nguyên tắc trong kế toán và phù hợp với doanh thu thực tếcủa doanh nghiệp. Tuy nhiên phương pháp này chỉ phù hợp vưới doanh nghiệp có số lượng ít các mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn. Còn với doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì sẽ khó khăn trong việc sử dụng phương pháp này.

+ Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Phương pháp này còn có tên gọi là FIFO, hiểu đơn giản với phương pháp này hàng hóa nào nhập trước sẽ được xuất trước. Sau khi xuất hết số hàng hóa được nhập trong các lần trước sẽ đến số hàng hóa nhập ở lần tiếp theo. Chúng sẽ thực hiện tuần tự cho đến khi các lô hàng được xuất hết đi. Giá trị của lô hàng xuất trước sẽ tương ứng với giá nhập vào ở đầu thời kỳ, hàng hoá tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào trong kỳ đó.

Với phương pháp này có thể tính toán được ngay giá vốn hàng xuất kho sau mỗi lần xuất hàng. Nhờ vậy mà kế toán có thể dễ dàng ghi chép lại, phương pháp này phù hợp với tình hình giá cả ổn định và có xu hướng giảm xuống.

Phương pháp này trái với phương pháp trên. Với phương pháp này hàng hóa được nhập sau và sản xuất sau sẽ được xuất trước và những hàng hóa còn lại ở cuối kỳ sản xuất là những mặt hàng từ những lần nhập đầu hoặc sản xuất trước đó.

Với phương pháp này giá xuất kho sẽ tính theo giá trị lô hàng nhập sau cùng còn giá trị tồn kho sẽ là mức giá của lô hàng nhập từ những lần trước đó.

Căn cứ vào hoạt động của DN kế toán có thể lựa chọn các phương pháp tính giá phù hợp nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán. Doanh nghiệp áp dụng theo một trong các phương pháp tính giá xuất kho. Trên thực tế phải căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp kế toán có thể lựa chọn các phương pháp tính giá sao cho thuận lợi trong quá trình tính toán và phải sử dụng đúng nguyên tắc nhất quán trong hạch toán. Trường hợp nếu có thay đổi phương pháp phải có giải thích rõ ràng bằng văn bản để gửi về cơ quan thuế :

1. Cách tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền

Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của tưng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp

Phương pháp giá bình quân cả kỳ dự trữ ( phương pháp này thường xuyên sử dụng)

Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít doanh điểm nhưng số lần nhập, xuất mặt hàng lại nhiều, căn cứ vào giá thực tế, tồn đầu kỳ để kế toán xác định giá bình quân của một đơn vị sản phẩm, hàng hoá.

Đơn giá xuất kho bình quân =

(Trị giá hàng, nguyên vật liệu tồn đầu kỳ + Trị giá hàng, nguyen vật liệu nhập trong kỳ)

(số lượng hàng, nguyên vật liệu tồn đầu kỳ + số lượng hàng, nguyên vật liệu nhập trong kỳ)

Ưu điểm: Đơn giản,dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác không cao, công việc kế toán bị dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác, phương này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

Phương pháp bình quân cuối kỳ trước:

Phương pháp này khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của nguyên vật liệu, hàng hoá. Tuy nhiên lại không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả.

Đơn giá bình quân cuối kỳ trước =

Giá thực tế tồn đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trước )

Lượng thực tế tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước )

Phương pháp đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập

Theo phương pháp này, kế toán phải tính lại giá trị của hàng tồn kho và đơn giá bình bình quân sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hóa đó

Đơn giá xuất kho lần thứ n =

Trị giá hàng, nguyên vật liệu tồn đầu kỳ + Trị giá hàng, nguyên vật liệu nhập trước lần xuất thứ n /

Số lượng hàng, nguyên vật liệu tồn đầu kỳ + Số lượng hàng, nguyên vật liệu nhập trước lần thứ n

Ưu điểm : Phương pháp này khắc phục được những hạn chế của phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ

Nhược điểm : việc tính toán phức tạp, tốn nhiều thời gian.

Vì vậy mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít mặt hàng tồn kho, có số lượng nhập - xuất ít.

2. Phương pháp tính theo giá đích danh

Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hoá mua vào, từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

Ưu điểm : Đây là phương pháp tốt nhất, tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra, và giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.
Nhược điểm : Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

3. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước thì được xuất trước, và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

Ưu điểm: Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay giá vốn hàng xuất kho của từng lần xuất hàng, do vậy nó cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối đúng với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.

Nhược điểm : Phương pháp này có nhược điểm là làm cho DT hiện tại không phù hợp với những khoản CP hiện tại. Đối với phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị vật tư, hàng hoá có được từ cách đó rất lâu. Và nếu số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập - xuất liên tục, dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc của kế toán sẽ tăng lên nhiều.

*Phương pháp giá hạch toán: Trường hợp doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán trong kế toán chi tiết nhập, xuất nguyên liệu, vật liệu, thì cuối kỳ kế toán phải tính hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của nguyên liệu, vật liệu để tính giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trong kỳ theo công thức.

Mỗi phương pháp tính giá trị hàng tồn kho đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán, phương tiện xử lý thông tin của doanh nghiệp. Đồng thời cũng tuỳ thuộc vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa ở doanh nghiệp. Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá nào thì phải đảm bảo tính nhất quán trong cả niên độ kế toán.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Thuế - Công ty luật Minh Khuê