1. Tư vấn về hạn sử dụng và thừa kế đất nông nghiệp ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong luật sư tư vấn. Thứ nhất: Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình có ghi thời hạn đất trồng cây lâu năm tới năm 2016. Vậy khi hết hạn thì tôi vẫn được sử dụng đất và có cần đi gia hạn lại không ?
Thứ 2: Nội tôi đứng tên hộ khẩu và quyền sử dụng đất mảnh đất đó. Cha tôi là người thừa kế, các chị em của cha tôi đã được nội chia phần rồi nhưng không có di chúc hay giấy tờ gì. Giờ khi nội tôi mất và không có di chúc thì cha tôi có được thừa kế mảnh đất đó không? Và anh em của cha tôi có thể kiện để chia điều mảnh đất đó được không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất: Về việc gia hạn sử dụng đất.

Nếu như trước đây, thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân chỉ là 20 năm, thì nay thời hạn này đã được điều chỉnh theo hướng tăng lên thành 50 năm. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày 01/7/2014, khi hết thời hạn sử dụng đất nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn đã quy định.

Đối với trường hợp hết thời hạn sử dụng đất vào ngày 15/10/2013 thì thời hạn sử dụng đất tiếp theo được tính từ ngày 15/10/2013. Đối với trường hợp hết thời hạn sau ngày 15/10/2013 thì thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày hết thời hạn giao đất. (khoản 1 Điều 126, khoản 3 Điều 210 Luật đất đai 2013).

Liên quan đến trình tự, thủ tục khi hết thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, khoản 2, 3 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đang sử dụng đất nông nghiệp được nhà nước giao đất, công nhận, nhận chuyển quyền sử dụng đất, khi hết thời hạn sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất.

Trong trường hợp có nhu cầu xác nhận lại thời hạn sử dụng đất trên Giấy chứng nhận thì thực hiện theo thủ tục sau:

Người sử dụng đất nộp một bộ hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất đề nghị xác nhận lại thời hạn sử dụng đất, gồm (khoản 10 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính):

- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất (theo mẫu);

- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.

Thời gian thực hiện: không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (điểm g khoản 2, khoản 4 Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai)

Như vậy, trong Giấy chứng nhận của gia đình chị ghi thời hạn sử dụng đất đến ngày 15/10/2013. Hết thời hạn này, nếu có nhu cầu thì gia đình bạn được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn 50 năm, tính từ ngày 15/10/2013 mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất. Trường hợp, gia đình bạn có nhu cầu xác nhận lại thời hạn sử dụng đất trên Giấy chứng nhận thì thực hiện theo thủ tục như trên.

Thứ hai: Về thừa kế đất.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì ông nội bạn mất không để lại di chúc, thì di sản thừa kế của ông nội bạn sẽ được chia theo pháp luật.

Theo quy định Bộ luật dân sự 2015 thì hàng thừa kế theo pháp luật gồm:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản"

Khi chia di sản thừa kế theo hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được nhận di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước hoặc còn nhưng từ chối quyền thừa kế hoặc bị truất quyền hưởng di sản thừa kế.

Như vậy, theo như thông tin mà bạn cung cấp thì nội bạn đã chia phần cho các anh em khác. Nhưng lại không có di chúc.

Vì bạn cũng không cung cấp rõ ông nội bạn trước khi qua đời có để lại di chúc bằng miệng hay không. Gỉa sử trước khi mất, ông bạn có để lại di chúc bằng miệng thì di chúc này phải hợp pháp thì sau khi ông nội bạn mất thì di sản mới được chia theo di chúc, không di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật như đã trình bày như trên.

Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu thỏa mãn những điều kiện nhất định.

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 629 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng."

Như vậy việc lập di chúc miệng phải trong trường hợp thực sự cấp thiết do bị bệnh tật hay các nguyên nhân khác mà không thể lập được di chúc bằng văn bản.

Thứ hai, khoản 5 Điều 630 quy định:

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.".

- Như vậy di chúc miệng phải có ít nhất hai người làm chứng, người làm chứng không được thuộc một trong những người sau (theo Điều 632):

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Việc khởi kiện yêu cầu đòi chia đều mảnh đất này phải phụ thuộc vào việc ông bạn có để lại di chúc bằng miệng hay không. Nếu ông nội bạn có để di chúc bằng miệng và di chúc này hợp pháp thì toàn bộ di sản của ông nội bạn sẽ được chia theo nội dung di chúc. Còn trong trường hợp không để lại di chúc thì di sản sẽ được chia theo pháp luật theo các hàng thừa kế, nếu thuộc hàng thừa kế ( thừa kế theo di chúc) hoặc di chúc bằng miệng ( để lại yêu cầu chia di sản đều mảnh đất cho các anh em của ông và hợp pháp) thì anh em của cha bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn, trừ trường hợp ngoại lệ không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện cập nhật mới nhất năm 2020 và hướng dẫn cách viết đơn khởi kiện

2. Tư vấn chi thừa kế đất đai của người đã mất ?

Kính chào luật sư! Tôi xin phép được trình bày câu hỏi của mình. Ông ngoại và bà ngoại tôi đều đã mất, ông bà có để lại một mảnh đất 5000m2, và có 7 người con gồm 3 trai và 4 gái, tất cả bảy người con đều sinh sống và xây nhà trên mảnh đất này . Tuy nhiên không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hay sử dụng đất. Và vì ông bà mất đã lâu nên hiện tại 7 người con đều muốn chia tài sản.

Tuy nhiên có 3 người trong số 7 người con không muốn chia đều và muốn dành phần hơn, mỗi khi họp bàn về chuyện chia tài sản đều xảy ra tranh chấp và cãi vã (những người không đồng ý chia đều thường sử dụng bạo lực), và bảy người đã không thể cùng ngồi bàn bạc với nhau, cả bảy người con đều không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng hay sở hữu mảnh đất này.

Vậy thưa luật sư cho tôi hỏi phần tài sản này sẽ được chia như thế nào và quy trình ra sao, cần những giấy tờ và thủ tục gì?

Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Người gửi: H.Y

Tư vấn chi thừa kế đất đai của người đã mất?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Được biết ông bà ngoại bạn đều đã mất, ông bà có để lại một mảnh đất 5000m2 và có 7 người con gồm 3 trai và 4 gái đều sinh sống và xây nhà trên mảnh đất này . Tuy nhiên không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hay sử dụng đất. Và vì ông bà mất đã lâu nên hiện tại 7 người con đều muốn chia tài sản.Tuy nhiên có 3 người trong số 7 người con không muốn chia đều và muốn dành phần hơn. Mỗi khi họp bàn về chuyện chia tài sản đều xảy ra tranh chấp và cãi vã ( những người không đồng ý chia đều thường sử dụng bạo lực) và bảy người đã không thể cùng ngồi bàn bạc với nhau, cả 7 người con đều không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng hay sở hữu mảnh đất này. Trơng trường hợp này chúng tôi xin tư vấn như sau:
- Xét thấy, mảnh đất gia đình bạn đang có tranh chấp thừa kế chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy trước khi chia thừa kế cho mảnh đất này thì buộc phải làm thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất cho mảnh đất này. Và một trong bảy người con sẽ viết một văn bản thỏa thuận ủy quyền cho một trong bảy người đứng ra thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người được ủy quyền sẽ nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường nơi có đất. Hồ sơ bao gồm:
+ Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK ban hành kèm theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT;
+ Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất;
+Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có);
Trường hợp muốn đăng ký chứng nhận quyền sở hữu mảnh đất này , công trình xây dựng gắn liền trên đất, cây lâu năm, bạn tham khảo thêm Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để chuẩn bị tài liệu cho phù hợp.
- Mặt khác, Việc 3 người trong số 7 người con không muốn chia đều và muốn dành phần hơn. Điều này sẽ không được Tòa án chấp nhận khi có tranh chấp về thừa kế trừ khi ông bà ngoại bạn có để lại di chúc cho 3 người kia được hơn. Như vậy những người cùng hàng thừa kế sẽ được phân chia đều nhau được quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân :" Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật." . Ông bà ngoại bạn mất không để lại di chúc và nếu 7 người con thỏa thuận được phần thừa kế của mình còn nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ phân chia thoe pháp luật và 7 người con sẽ được nhận phần thừa kế bằng nhau mà thôi.
- Sau khi đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong trường hợp này có 7 người cùng được quyền hưởng thừa kế, khi khai nhận và phân chia di sản thừa kế thì thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại Phòng Công Chứng hoặc Văn Phòng Công Chứng.
Hồ sơ khai nhận và phân chia di sản thừa kế bao gồm:
+ CMND, Hộ khẩu, Giấy khai sinh của 7 người trong diện thừa kế;
+ Giấy chứng tử của ông bà ngoại bạn
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hoặc các giấy tờ khác như đã nêu trên)
Như vậy, 7 người con thừa kế khác muốn thừa hưởng phần di sản của họ thì họ sử dụng biên bản phân chia di sản để thực hiện thủ tục tách thửa xin cấp sổ đỏ riêng cho phần đất được thừa kế.
Nguyên tắc hưởng:
Căn cứ khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:
"2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

3. Tư vấn quyền thừa kế đối phần đất khi qua đời ?

Thưa luật sư, Luật sư cho tôi hỏi năm 1985 Ông Nội tôi qua đời (bà Nội mất trước đó đã lâu) để lại cho Ba Mẹ tôi mảnh đất, vì Ba Mẹ tôi sống cùng Ông Bà Nội, đến năm 1999 Ba tôi làm thủ tục xin cấp sổ đỏ miếng đất đó và đựợc cấp sổ đỏ vào tháng 1 năm 1999, là Quyền sử dụng đất là của ông bà Nguyễn Văn Do (tức là Ba Mẹ tôi).

Đến năm 2013 Ba tôi mất và trước lúc mất đã uỷ quyền miếng đất đó cho Mẹ tôi. Trải qua hơn 16 năm kể từ ngày được cấp quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Nay người cô ruột cuả tôi (chị ruột cuả Ba tôi) ủy quyền cho luật sư khởi kiện Mẹ tôi, đòi phân chia quyền thừa kế miếng đất đó có nhà của Ba Mẹ tôi trên đó (nhà cô tôi ở cạnh nhà tôi nhưng không trên miếng đất đó).

Vậy xin hỏi luật sư cô tôi làm như thế có đúng pháp luật không và Mẹ tôi có phải phân chia miếng đất đó cho cô tôi không?

Rất mong sự chia sẻ của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ_HĐTP, quy định về trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế quy định tại mục 2 Chương I như sau:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Căn cứ vào quy định trên, cho dù đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế nhưng cô của bạn vẫn có quyền gửi đơn đến Tòa án yêu cầu chia tài sản chung của các đồng chủ sở hữu đối với mảnh đất của ông bà bạn để lại.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, việc ông bà bạn để lại tài sản cho bố bạn không thông qua di chúc cho nên di sản phải được chia theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế. Việc các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ, các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. Như vậy, việc phân chia phần đất này giữa cô bạn và gia đình bạn phải được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

4. Chuyển quyền sử dụng đất thừa kế cho mẹ có cần chữ ký của các con ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Gia đình tôi có một ít đất. Nay cha tôi chết không để lại di chúc. Phần đất đó muốn sang tên cho mẹ tôi đứng chủ quyền nhưng ở UBND đòi phải có đầy đủ chữ ký của anh chị em mới làm thủ tục này. Chị em lấy chồng nước ngoài không về được.
Như vậy, mẹ tôi có đứng tên quyền sử dụng đất mà cha tôi để lại được không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: P.L

Chuyển quyền sử dụng đất thừa kế cho mẹ có cần chữ ký của các con ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo những thông tin bạn cung cấp thì việc UBND yêu cầu phải có chữ ký của các anh chị em thì mới làm thủ tục cho mẹ bạn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không trái với quy định của pháp luật.

Vì cha bạn mất không để lại di chúc nên căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"

Bố bạn mất không để lại di chúc nên bạn cùng anh chị em bạn và mẹ bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất (nếu bạn không còn ông, bà nội). Do đó anh chị em bạn và mẹ bạn thuộc sở hữu chung theo phần đối với Quyền sử dụng đất mà bố bạn để lại.

Mẹ bạn cần có chữ ký của anh chị em bạn để mẹ bạn đứng tên quyền sử dụng đất căn cứ Khoản 1 Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015:

"Điều 218. Định đoạt tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình."

Chị bạn lấy chồng nước ngoài không về được nhưng vẫn đồng ý cho mẹ bạn được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể thực hiện hợp đồng ủy quyền cho người khác căn cứ theo điều 562 Bộ luật dân sự năm 2015 :

"Điều 562. Hợp đồng ủy quyền

Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định"

Việc uỷ quyền này cần có công chứng hoặc chứng thực thì mới đủ điều kiện có hiệu lực. Sau khi chị bạn ủy quyền cho người khác và mẹ bạn có đầy đủ chữ ký hợp lệ thì mẹ bạn sẽ được đứng tên chủ sở hữu quyền sử dụng đất.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

5. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thừa kế ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Ông nội tôi có 5 người con, bố tôi là cả và 2 chú thứ 3, thứ 4. Ông nội nay đã về già và thiếu minh mẫn, ông đứng tên 1 sổ đỏ và đang ở với chú thứ 3, gần đây thì chú này đã đổi sổ hộ khẩu đứng tên chú có thành viên là vợ chú, con chú cùng ông và chú thứ 4, cô út (chú thứ 4 và cô út chưa có gia đình và đang đi làm xa).
Vậy sau này việc phân chia tài sản (sổ đỏ do ông đứng tên) có bị ảnh hưởng gì không? Bố em là cả thì có quyền gì khác ? Và chú thứ 3 có quyền sở hữu mảnh đất có sổ đỏ ông đứng tên không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: T.L

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thừa kế trong gia đình ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 25 Luật cư trú năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định như sau:

"Điều 25. Sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia đình

1. Sổ hộ khẩu được cấp cho từng hộ gia đình. Mỗi hộ gia đình cử một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú. Trường hợp không có người từ đủ mười tám tuổi trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ.

Những người ở chung một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có thể được cấp chung một sổ hộ khẩu."

Như vậy, việc chú ba của bạn đứng tên chủ hộ trong sổ hộ khẩu chỉ nhằm thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú chứ không đồng nghĩa với việc chú ba của bạn là chủ sở hữu căn nhà hay quyền sử dụng đất.

Về vấn đề thừa kế, nếu ông bạn có lập di chúc thì sau khi ông bạn mất đi, di sản mà ông bạn để lại sẽ được chia theo di chúc. Trong trường hợp ông bạn không lập di chúc thì phần di sản để lại sẽ được chia theo pháp luật. Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó, phần di sản mà ông bạn để lại sẽ được chia đều cho các con của ông bao gồm bố của bạn, chú 3, chú 4 và cô út. Vì vậy, việc chú ba của bạn đứng tên chủ hộ trong sổ hộ khẩu gia đình không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của những đồng thừa kế khác cũng như việc bố bạn là con cả không làm phát sinh thêm quyền gì khác so với những người con còn lại.

Về vấn đề căn nhà và quyền sử dụng đất có thuộc về chú ba của bạn hay không thì như đã nói ở trên, việc chú ba của bạn đứng tên chủ hộ trong sổ hộ khẩu không đồng nghĩa với việc chú ba là chủ sở hữu quyền sử dụng đất và ngôi nhà đó. Việc ông bạn vẫn đứng tên trong sổ đỏ cho thấy ông bạn vẫn là chủ sở hữu quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà chứ không phải chú ba của bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Nếu còn điều gì vướng mắc, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua đường dây nóng (24h/7) 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế