Nhưng do đơn hàng xuất khẩu lao động không được theo ý muốn, nên không thực hiện được. Tôi chấp nhận viết giấy biên nhận tiền của gia chủ và hẹn 3 tháng thì trả. Trong khoảng thời gian đó tôi có bị gia chủ đe dọa và ép tôi phải đóng tiền lãi với mức 5000đ/1 triệu/ 1 ngày và để giấy tờ tùy thân ở lại. Vì tôi biết gia chủ có mối quan hệ phức tạp ở xã hội, nên tôi đã đóng cho họ được 8 triệu tiền lãi (có giấy chứng nhận chuyển qua ngân hàng tới gia chủ). Nay tôi đã lấy được tiền đặt cọc ở công ty xuất khẩu lao động và muốn mang trả lại họ, tôi đã thương lượng số tiền lãi để chỉ trả số tiền gốc tôi đã nhận. Nhưng đã không được gia chủ đồng ý. Nay tôi muốn khởi kiện lên tòa án về các tội danh của gia chủ như sau:

+ Tôi đe dọa người khác (có tin nhắn và ghi âm)

+ Tội áp đặt lãi suất cao khi biết người khác gặp khó khăn (vì tôi chưa lấy lại tiền của công ty lao động)

+ Tội cầm giấy tờ tùy thân của người khác không đúng Pháp luật.

Vậy kính mong Luật Sư Minh Khuê giúp đỡ tư vấn cho tôi trong thời gian ngắn nhất, vì tôi muốn lấy lại giấy tờ tùy thân để thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân khác của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê. 

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ Luật Hình sự 1999

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về vấn đề đe dọa người khác có cấu thành tội đe dọa giết người quy định tại Điều 103 Bộ luật hình sự 1999 hay không còn xem xét vào dấu hiệu pháp lý như sau: 

Đe dọa giết người, được hiểu là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho người bị đe dọa biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị xâm phạm (tức sẽ bị giết chết). Dựa trên các dấu hiệu sau: 1.Có hành vi làm cho người bị đe dọa biết được khả năng, tính mạng của họ sẽ bị xâm phạm (bị giết chết), hành vi này được thể hiện trực tiếp (như bằng lời nói trước mặt, nói trực tiếp với người bị đe dọa) hoặc bằng gián tiếp (như qua thư, qua điện thoại hoặc nhắn qua người khác); 2.Có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện và cần phải xét toàn diện trên tất cả các mặt như: Phương pháp thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa; Nguyên nhân của việc thực hiện hành vi đe dọa, mâu thuẫn giữa người có hành vi đe dạo và người bị đe dọa; Trạng thái tâm lí, xử xự của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa; Số lần đe dọa và khả năng thực hiện các hành vi đó của người đe dọa. Dấu hiệu bắt buộc của tội này là người có hành vi đe dọa giết người làm cho người bị đe dọa lo sợ thực sự là việc đe dọa hoàn toàn có khả năng sẽ thực hiện.

Trong trường hợp của bạn, nếu như trong đoạn băng ghi âm, tin nhắn có các dấu hiệu trên thì có thể cấu thành tội đe dọa giết người quy định tại Điều 103 BLHS 1999. Nếu không có các dấu hiệu trên thì không đủ để cấu thành tội đe dọa giết người và đó chỉ là hành vi đe dọa trong quan hệ dân sự mà thôi. Khi bạn bị đe dọa buộc phải thực hiện giao dịch giữa 2 bên thì bạn có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự 2005, Khi tuyên bố vô hiệu thì bạn sẽ không phải thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc quy định trong hợp đồng.

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Thứ hai. Đối với tội cho vay lãi nặng quy định tại Điều 163 BLHS 1999. Với các dấu hiệu sau: 1.Cho vay lãi nặng được hiểu là hành vi cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên; 2.Có tính chất chuyên bóc lột. Tức là có hoạt động cho vay với lãi suất cao như nói trên thường xuyên và xem đó như là một nghề chính và là nguồn thu nhập chủ yếu. 

Trường hợp của bạn không thuộc trường hợp cho vay nặng lãi quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự 1999, đó là hành vi ép buộc, đe đọa thực hiện nghĩa vụ dân sự. Do vậy bạn cũng yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên và các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự 2005. 

Thứ ba. Việc cầm giấy tờ tùy thân của người khác không đúng quy định của pháp luật có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 9, Nghị định 167/2013/NĐ-CP Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Điều 9. Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân. 

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

b) Tẩy xóa, sửa chữa chứng minh nhân dân;

c) Thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận  tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê