Họ được cho là đã bàn bạc, ghi giảm trọng lượng heo so với lượng thực tế khi cân, dựng khống phiếu giao hàng phù hợp với phiếu cân heo khống và xuất hóa đơn giá trị gia tăng làm lợi cho khách hàng. Tiền chênh lệch sau đó được khách mua heo chuyển lại cho các nhân viên thông qua tài khoản ngân hàng để ăn chia. Liên quan đến vụ việc, nguồn tin từ báo Công an nhân dân, trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 9/2013, các đối tượng đã câu kết, dùng nhiều thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền trên 2,7 tỷ đồng, tương đương trên 20.000 kg thịt heo là tài sản của doanh nghiệp. Lợi dụng sơ hở trong quy định của công ty về quy trình bán heo và thanh toán tiền, các đối tượng Huyền, Hoàn và Tầng móc nối, câu kết thông đồng với khách hàng để chiếm đoạt tài sản của công ty. Cụ thể các đối tượng đã dựng khống nội dung trên phiếu cân bắt heo, ghi giảm trọng lượng heo so với trọng lượng thực tế khi cân tại trại xuất heo, ghi khống phiếu giao hàng với phiếu cân heo khống, xuất hóa đơn GTGT làm lợi cho khách hàng. Số tiền chênh lệch sẽ được khách hàng mua heo chuyển lại cho các đối tượng thông qua tài khoản mở tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Xuân Mai để ăn chia. Quá trình điều tra, các nhân viên này đã thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản và tự nguyện nộp tiền tại cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả. Trong đó, Huyền nộp 1 tỷ 70 triệu, Tầng nộp 400 triệu, Hoàn nộp 300 triệu.) Xin Luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi vụ án trên xem có khởi tố đúng tội không và làm thế nào để họ được hưởng án treo?
Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục Tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào anh! Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà anh thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:
1. Cơ sở pháp lý
2. Nội dung tư vấn
Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì:
"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."
Theo như trường hợp mà bạn mô tả, các đối tượng Huyền, Hoàn và Tầng đã có hành vi câu kết với nhau cùng với các khách hàng, khai khống trên hóa đơn bán hàng và phiếu giao hàng. Trong trường hợp này, dù các đối tượng trên có lợi dụng sự tin tưởng từ phía công ty để thực hiện hành vi này, tuy nhiên, đây không phải là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà được xác định là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi các đối tượng trên có hành vi câu kết với nhau, dựng lên các số liệu giả trong quá trình xuất hóa đơn, nghĩa là đã có hành vi lừa dối đối với công ty ngay từ đầu để chiểm đoạt phần tiền chênh lệch trên hóa đơn so với thực tế. Cụ thể, để bạn hiểu rõ hơn, chúng tôi xin được phân tích cấu thành tội phạm đối với tội này như sau:
Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Trong trường hợp trên, các đối tượng này có hành vi câu kết với cả khách hàng để thực hiện hành vi gian dối với công ty nhằm chiếm đoạt tài sản của công ty
Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Trong trường hợp này, các đối tượng Huyền, Hoàn và Tầng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công ty.
Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định
Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
Hơn nữa, số tiền mà các đối tượng trên đã chiếm đoạt là 2,7 tỷ đồng, đủ điều kiện để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt:
Theo như phần trình bày của bạn, số tiền mà các đối tượng trên chiếm đoạt là 2,7 tỷ đồng, và còn có tình tiết tăng nặng là phạm tội có tổ chức. Hành vi này được cấu thành tại khoản 4 của Điều 139 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tù mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Còn điều kiện để được hưởng án treo, theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì:
"Điều 60. Án treo
1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm."
Như vậy, người phạm tội sẽ chỉ được hưởng án treo khi bị xử phạt tù không quá 3 năm mà người này có các tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cân nhắc cho hưởng án treo. Tuy nhiên, trong trường hợp trên, hành vi mà các đối tượng trên thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, trường hợp này các đối tượng sẽ không được hưởng án treo.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.
Trân trọng ./.
Bộ phận Tư vấn Luật hình sự.