Ý nghĩa của vạch kẻ đường

Trả lời:

Căn cứ Quy chuẩn 41:2016/BGTVT về phần vạch kẻ đường, chúng tôi xin phân tích về phần Nhóm vạch phân chia các làn xe chạy cùng chiều như sau:

- Đối với dạng vạch đơn, đứt nét, màu trắng (bề rộng vạch 15cm): dùng để phân chia các làn xe cùng chiều. Trong trường hợp này, xe được phép thực hiện việc chuyển làn đường qua vạch

- Đối với dạng vạch đơn, liền nét, màu trắng (bề rộng vjach 15cm): dùng để phân chia các làn xe cùng chiều trong trường hợp không cho phép xe chuyển làn hoặc sử dụng làn khác; xe không được lấn làn, không được đè lên vạch.

- Vạch giới hạn làn đường dành riêng hoặc làn đường ưu tiên (bằng vạch đơn, màu trắng, bề rộng vạch 30 cm):

Vạch giới hạn làn đường dành riêng cho một loại xe cơ giới nhất định (vạch liền nét), các loại xe khác không được đi vào làn xe này trừ những trường hợp khẩn cấp theo Luật Giao thông đường bộ.

Vạch giới hạn làn đường ưu tiên cho một loại xe cơ giới nhất định (vạch đứt nét), các xe khác có thể sử dụng làn đường này nhưng phải nhường đường cho xe được ưu tiên sử dụng làn khi xuất hiện loại xe này trên làn xe.

Xe trên làn đường dành riêng hoặc làn đường ưu tiên có thể cắt qua các vạch này khi làn đường hoặc phần đường xe chạy liền kề không cấm sử dụng loại xe

Xử lý vi phạm

Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, CSGT sẽ ra Quyết định xử phạt như sau:

Mức phạt 100-200 ngàn đối với các hành vi sau (theo Mục a, Khoản 1, Điều 5):

- Không tuân thủ vạch kẻ đường

Mức phạt từ 300 - 400 ngàn đối với các hành vi sau (theo mục a, Khoản 2, Điều 5)

- Chuyển làn đường không đúng nơi cho phép

Mức phạt từ 800.000 ngàn - 1.200.000 ngàn đối với hành vi sau:

- Điều khiển xe không đi đúng phần đường hoặc làn đường quy định

Tuy nhiên có một số trường hợp dù lái xe phạm lỗi Không tuân thủ vạch kẻ đường, nhưng nếu hoàn cảnh phạm lỗi rơi vào 1 trong 5 trường hợp Luật loại trừ không xử phạt VPHC thì CSGT không có quyền phạt lái xe nữa.

Theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính số: 15/2012/QH13 được Quốc hội khoá 13 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2013.

Tại điều 11: Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính

“Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;

2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;

3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;

4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;

5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này”

>> Xem thêm:  Công an xử phạt lỗi vi chạy quá tốc độ nhưng không chứng minh lỗi vi phạm có đúng luật ?

Chuyển làn trên đường có vạch đứt ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Trên phần đường có 2 làn đường ô tô, được phân cách bằng vạch đứt thì việc chuyển làn (để qua mặt một xe khá) có được gọi là vượt không ?

Trong luật giao thông có điều khoản cấm vượt trên cầu, giao lộ, ...thì hành động chuyển làn trên cầu (có vạch đứt) có vi phạm không? Tôi đã bị CSGT phạt 2 lần, 1 lần chuyển làn ngay giao lộ, 1 lần chuyển làn trên cầu vượt.

Người gửi: N.H.P

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho công ty chúng tôi. Đối với vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Căn cứ vào quy định tại Điều 13 và Điều 14 LLuật Giao thông đường bộ năm 2008 có quy định như sau:

Điều 13. Sử dụng làn đường

1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

2. Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đi trên làn đường bên trái.

3. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải.

Điều 14. Vượt xe

1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

Việc bạn thực hiện chuyển làn đường như vậy không coi là " vượt xe". Luật GTĐB Việt Nam không có quy định cụ thể về thế nào là " vượt xe", theo quy định trong Luật GTĐB của nước Nga có đưa ra khái niệm vượt xe, cụ thể:

" vượt xe là việc vượt qua một hoặc một vài phương tiện giao thông bằng cách chuyển sang làn của các phương tiện ngược chiều, sau đó trở về làn đường mình đang di chuyển".

Như vậy " vượt xe chỉ đặt ra khi các phương tiện tham gia giao thông theo hai chiều. Trường hợp của bạn nếu bạn đang đi trên đường hai chiều mà chuyển làn để vượt lên xe khác thì được coi là "vượt xe".

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có quy định:

Điều 13. Sử dụng làn đường

1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

Đối với trường hợp chuyển làn đường ở trên cầu trong Luật GTĐB chỉ quy định cấm vượt khi trên cầu hẹp ( Khoản 5 Điều 14 Luật GTĐB ). Có nghĩa là nếu trên cầu có nhiều làn xe và vạch phân chia làn đường là nét đứt thì việc chuyển làn xe trên cầu là không bị cấm, không vi phạm Luật GTĐB.

Trên đây là ý kiến giải đáp thắc mắc của Công ty chúng tôi. Nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến để giải đáp thắc mắc xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ emaill Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.616

>> Xem thêm:  Khi vận chuyển hàng hóa trên đường cần phải mang theo giấy tờ gì ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh khuê

>> Xem thêm:  Tự ý thay đổi màu sơn (kết cấu) của xe máy, mô tô bị xử phạt thế nào ?