Người cư sĩ tại gia sau khi thọ quy giới, có tôn trí bàn thờ Phật, thì tụng kinh cũng là một cách tu tập giản dị nhưng lại có lợi ích thiết thực cho mình và gia đình mình vậy.

 

1. Tụng kinh là gì ?

Tụng là đọc. Tụng kinh là đọc thành tiếng những bài kinh do Phật thuyết, hoặc bằng Phạn văn hoặc bằng Việt văn đã dịch ra thể văn xuôi hay văn vần. Gọi chung là kinh nhưng gồm tất cả kệ ngôn hoặc kệ thơ được trích từ những bài kinh ngắn. Đôi khi cũng có thể là những bài kệ khuyến tu do những người học Phật sáng tác, tự nhắc nhở mình và đại chúng trên con đường giác ngộ, giải thoát.

 

2. Phải tụng kinh như thế nào ?

Tụng kinh không nên đọc quá to, quá nhanh, cũng không nên đọc quá nhỏ, mà nên tụng chậm rãi, khoan thai, bình hòa, an tịnh...

Khi tụng, phải hoàn toàn chú tâm vào lời kinh, lời kệ; phải  hoàn toàn tự chủ, ổn định, chánh niệm. Không nên kéo quá dài hơi ê, a... ngân nga như ngâm thơ. Chỉ cần giữ nhịp nhàng vần điệu chứ không nên chú trọng quá đến hình thức "nhạc lễ". Nói tóm lại là phải giữ cho được tinh thần trong sáng, thanh thoát và giản dị của đạo Giác Ngộ.

 

3. Lợi ích của tụng kinh

Tụng kinh là pháp môn tu tập tương đối dễ dàng, không những dành cho đại chúng, những kẻ sơ cơ mà trình độ cao cũng không nên xem thường. Tụng kinh có những lợi ích sau đây:

 

3.1 Thấy được lý kinh.

Cứ tụng đi, tụng mãi những câu kinh; nghĩa lý đôi khi không hiểu hết, nhưng chợt một lúc nào đó, ta trực nhận ra một vài ý nghĩa rất sâu xa ở bên trong. Đôi khi lại từ thường ngữ, thường nghĩa của kinh, ta lãnh hội được pháp ngữ, pháp nghĩa ẩn bên sau của kinh nữa đó.

 

3.2 Huân tập vào vô thức những hạt giống lành.

Nếu không trực nhận được những nghĩa lý sâu xa, vi diệu của kinh - thì vô thức ta cũng có dịp ghi nhận và khắc sâu câu kinh, tiếng kệ ấy. Có nhiều người tụng kinh nhiều, vô thức họ đã thuộc làu nên có thể tụng kinh cả trong giấc ngủ.

Câu kinh tiếng kệ khi đã khắc sâu vào vô thức rồi; thì chính vô thức ấy sẽ tác động ý thức, dẫn dắt ý thức, ảnh hưởng ý thức và chuyển hoá ý thức. Và rồi đến một lúc nào đó, lời kinh tiếng kệ ấy sẽ thay tâm đổi tánh con người. Biến một con người xấu ra tốt, biến người ác độc, hung dữ thành người hiền lành, từ ái; biến người bộp chộp, nóng nảy thành người trầm tĩnh, ổn định...

 

3.3  Đối trị với tạp niệm, phiền não.

Tâm ý chúng sanh giống như con vượn chuyền cành, con khỉ nhảy nhót lung tung, con ngựa bất kham ham thích dong ruổi (tâm viên, ý mã). Tâm ý ấy luôn lăng xăng, phóng dật, buông lung đúng như mấy câu Kinh Lời Vàng:

“- Tâm ta khinh động bất an.

Kiếm tìm dục lạc chạy quàng, chạy xiêng”.

Hoặc:

“ Khó thay trì nhiếp tâm người.

Chập chờn, dao động vạn đời không yên”.

Rõ ràng là tâm ý ấy không bao giờ yên được, bình lặng được, nó luôn lăng xăng tìm kiếm đối tượng ngoại trần ưa thích. Đau khổ từ đó có mặt mà phiền não cũng từ đó mà dấy sinh.

Khi tụng kinh với tâm biết an trú, chánh niệm thì phiền não, tạp niệm không có cơ hội xen vào mà nó sẽ tự động lắng dứt vậy.

1. Ba nghiệp thân khẩu ý trọn lành. Khi tụng kinh thì:

+ Thân không sát sanh, trộm cắp, tà hạnh.

+ Khẩu không nói dối, hai lưỡi, ác độc, ỷ ngữ.

+  Ý không tham, sân và tà kiến.

Như vậy cả 10 nghiệp lành đều được trọn hảo, thanh tịnh.

2. Tạo năng lực hỗ trợ cho thường nghiệp (tập quán nghiệp).

Thường nghiệp hay tập quán nghiệp là những nghiệp thường làm trong đời sống hàng ngày thành thói quen, thành tập quán. Là một trong những nghiệp quan trọng quyết định tâm thức tái sinh.

Ví như người đồ tể do thói quen giết vật, lúc lâm chung thường thấy cảnh đâm giết, máu đổ.

Ví như người hay lễ lạy, cúng hoa, tụng kinh, chiêm bái xá-lợi Phật... lúc lâm chung thấy bảo tháp, Đức Phật hoặc cảnh giới đẹp đẽ, huy hoàng.

Tụng kinh lâu ngày thành thói quen tốt, tập quán nghiệp tốt sẽ quyết định, hỗ trợ cho kiết sanh thức tìm kiếm cảnh giới nhân thiên hạnh phúc, an lành.

3. Cảm hóa được gia đình và mọi người xung quanh.

Nhờ câu kinh, tiếng kệ hàng ngày mà trong gia đình và mọi người chung quanh bớt những câu chuyện vô ích, phù phiếm, những chuyện "ngồi lê đôi mách", "đâm bị thóc, thọc bị gạo", những chuyện nhạt nhẽo vô duyên - đôi khi chúng là nguyên nhân của bất hòa và phiền não. Gia đình và mọi người xung quanh như được bao trùm bởi những năng lượng tốt lành, không khí hướng thượng, thanh cao và mát mẻ.

4. Được nhiều quả báu tốt đẹp.

Người tụng kinh hưởng được những quả báu tốt đẹp sau đây:

  • Miệng thơm tho.
  • Phiền não lắng dịu.
  • Có uy tín trong gia đình và ngoài xã hội.
  • Tâm hồn luôn định tĩnh, thư thái, mát mẻ.
  • Nhân sanh nhàn cảnh...

Nói tóm lại, với những lợi ích như vậy, người phật tử dù trăm công nghìn chuyện, nhưng cũng phải cố gắng công phu. Không thường xuyên hàng ngày được thì cũng nên giữ mỗi tháng 2 ngày, 4 ngày... hoặc vào những ngày bát quan trai giới.

Pháp môn này dễ thực hiện nhưng công năng của nó không thua kém các pháp môn thiền định khác.

Nguồn: Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Tỳ-khưu Giới Đức - Sīlaguṇa Bhikkhu) – Phật học tinh yếu 

 

4. Câu hỏi thường gặp liên quan đến Đạo phật

4.1 Nội dung kinh vô ngã tướng?

Khi Đức Thế Tôn ở tại vườn Lộc Uyển Ngài đã giảng dạy cho 5 anh em ông Kiều Trần Như.

Này các Tỳ Kheo!

Thưa vâng bạch Thế Tôn! Thế Tôn thuyết giảng như sau:

Này các Tỳ Kheo sắc là vô ngã (không có một linh hồn trường cửu).

Nếu trong sắc có ngã thì sắc này không phải chịu đau khổ.

Sắc phải như thế này hay sắc phải không như thế kia.

Nhưng sắc này không có ngã nên còn phải chịu khổ đau và không thể nó phải như thế này hay phải như thế kia.

Cũng như thế, thọ, tưởng, hành, thức đều vô ngã.

Vậy, các Tỳ Kheo sắc này là thường hay vô thường?

Là vô thường bạch Thế Tôn!

Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

Là khổ bạch Thế Tôn!

Vậy có hợp lý chăng nếu nói cái vô thường giả tạm ấy là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi?

 

Thưa không bạch Thế Tôn.

Cũng như thế thọ, tưởng, hành, thức đều là vô thường và khổ.

Vậy có hợp lý chăng nếu nói cái gì vô thường giả tạm ấy là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi.

Thưa không bạch Thế Tôn.

Như vậy này các Tỳ Kheo tất cả sắc ở:

Quá khứ

Hiện tại

Tương lai

Bên trong

Bên ngoài

Thô

Tế

Cao thượng

Hạ liệt

Ở xa

Ở gần

Cần phải nhận thức với chánh tri kiến rằng:

Cái này không phải của tôi

Đây không phải là tôi

 

Cái này không phải tự ngã của tôi.

Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Bậc Thánh đệ tử thông suốt pháp ấy thì phải nhàm chán, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Dứt bỏ không luyến ái những gì không đáng được ưa thích và do sự dứt bỏ ấy, vị ấy giải thoát.

Tri kiến trở nên sáng tỏ “Ta đã giải thoát”

Vị ấy thấu suốt rằng dòng sinh tử đã chấm dứt.

Đời sống phạm hạnh đã được thành tựu.

Những việc cần làm đã được làm xong.

Không còn trở lại trạng thái này nữa.

Khi Đức Thế Tôn thuyết giảng xong tâm của 5 vị Tỳ Kheo hoàn toàn trong sạch không còn chút ô nhiễm.

 

4.2 Quán tâm vô ngã để làm gì?

Đáp:

Quán tâm là vô ngã

Để nhàm chán: đối với tâm

Để ly tham: đối với tâm

Để đoạn diệt: hết tham ái chấp thủ đối với tâm

Để từ bỏ: đối với các hành nghiệp vì tâm

Để đạt được chánh trí: giác ngộ sự thật

Để chứng ngộ Niết Bàn: giải thoát tử sinh.

 

4.3 Thế nào là vọng tâm - thế nào là chân tâm?

Đáp:

Vọng tâm: là các tâm bất thiện đi kèm với si mê nên còn dao động trước cảnh trần - sinh ra tình cảm được, mất, hơn, thua, khen, chê, yêu, ghét …

Chân tâm: là các tâm thiện đi kèm với trí tuệ nên thản nhiên, tự tại, không dao động trước cảnh trần.