1. Tỷ lệ (%) hoa hồng được hưởng do hoạt động môi giới bán hàng hóa ?

Xin chào các luật sư, Tôi xin hỏi. khi tôi làm môi giới bán hàng cho một công ty thì tôi được hưởng bao nhiêu % hoa hồng của tổng giá trị lô hàng mà tôi đã môi giới bán được cho công ty đó.
Theo quy định của pháp luật . ví dụ : công ty A có yêu cầu tôi môi giới bán một lô hàng là gỗ trị giá 30.000 usd .đến nay việc giao dịch mua bán đã xong vậy theo quy định của pháp luật tôi được hưởng bao nhiêu % tổng giá trị lô hàng đó ?
Cảm ơn!

Tỷ lệ hoa hồng (%) được hưởng do hoạt động môi giới bán hàng hóa ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 2 ĐIều 153 Luật thương mại năm 2005 thì:

Trường hợp không có thỏa thuận, mức thù lao môi giới được xác định theo quy định tại Điều 86 của Luật này

Dẫn chiếu tới Điều 86 ta thấy giá dịch vụ tính như sau :

“Trường hợp không có thoả thuận về giá dịch vụ, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá dịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ”

vì việc môi giới là hoạt động kinh doanh nên bên môi giới có quyền được hưởng tiền hoa hồng (commission) hay còn gọi là “thù lao môi giới”

Quyền được hưởng thù lao môi giới của bên môi giới phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới ký hợp đồng với nhau.

Một điều cần đặc biệt lưu ý là trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên được môi giới phải thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môi giới, kể cả khi việc môi giới không mang lại kết quả cho bên được môi giới.

2. Tư vấn tranh chấp hợp đồng môi giới thương mại ?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Công ty tôi là một Công ty cổ phần vào ngày 12/03/2012 Công ty tôi có ký một hợp đồng với một công ty chuyên môi giới cho các Công ty khác bán hàng hóa cho các đối tác nước ngoài (đây là hợp đồng môi giới thương mại). Công ty này đã giới thiệu cho Công ty tôi bán hàng cho một đối tác ở Angola (châu Phi).
Hiện tại thì Công ty tôi đang tranh chấp với Công ty môi giới. Tại vì Công ty môi giới đòi Công ty tôi trả tiền hoa Hồng theo hợp đồng nhưng thực tế số tiền hoa hồng này quá lớn so với thời buổi kinh tế làm ăn khó khăn như hiện nay. Vì vậy Công ty môi giới nói là nếu Công ty tôi không chịu chi trả số tiền hoa hồng như trong hợp đồng sẽ kiện Công ty tôi ra tòa. Nhưng trong bản hợp đồng, tại điều khoản, thời hạn thực hiện hợp đồng có ghi là hợp đồng vô thời hạn. Với điều khoản này nếu Công ty tôi có mua bán hàng hóa với Công ty bên Angola là sẽ phải chịu chi trả tiền hoa hồng cho Công ty môi giới với giá trị là 5% giá trị hợp đồng mà công ty tôi ký với angola.
Vậy, Luật sư cho tôi hỏi.
1. Với điều khoản này Công ty tôi có thể vận dụng điều nào của bộ luật dân sự 2005 làm cho điều khoản này vô hiệu không Ls . hiện tại thời buổi kinh tế khó khăn hàng hóa sản xuất bán không lời bao nhiêu mà lại phải chi trả tiền hoa hồng nên Công ty tôi rất bối rối.
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: Tú Đặng

Tư vấn tranh chấp hợp đồng môi giới thương mại?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời :

Hợp đồng môi giới thương mại trên không vi phạm nguyên tắc cơ bản nào làm cho hợp đồng bị vô hiệu theo điều 153 Bộ luật thương mại về quyền được hưởng thù lao của bên môi giới:

“Quyền hưởng thù lao môi giới phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau. và bên công ty môi giới được hưởng thù lao theo thỏa thuận”.

Theo điều 154 bộ luật thương mại :

“Bên được môi giới phải thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môi giới, kể cả khi việc môi giới không mang lại kết quả cho bên được môi giới.”

Trong Trường hợp trên bên công ty anh có thể thỏa thuận lại với bên công ty môi giới về tiền thù lao và phải được hai bên chấp nhận và sửa lại hợp đồng, nếu bên môi giới không đồng ý bên anh phải trả toàn bộ 5% tiền hoa hồng theo đúng thỏa thuận trước đó và chấm dứt hợp đồng khi hai bên đã hoàn thành và thực hiện hết mọi nghĩa vụ cho nhau ( trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

Sau khi hợp đồng chấm dứt có thể thỏa thuận đề nghị giao kết hợp đồng mới với thỏa thuận về mức hoa hồng khác.

3. Tư vấn về môi giới bảo hiểm không trung thực ?

Tôi tham gia HĐBH Nhân thọ được 1 năm, thời hạn hợp đồng 12 năm. phí đóng 29 triệu/năm. trong thời gian đó, tôi đã xảy ra sự kiện bảo hiểm, và Công ty Bảo hiểm đã bồi thường cho tôi 9 triệu đồng. Trước đây tôi được nghe nhân viên tư vấn, sau 2 năm tôi muốn tham gia nữa thì công ty sẽ cho tôi tham gia. Còn không thì chấm dứt, hủy hợp đồng sẽ được nhận lại toàn bộ tiền tôi đã đóng.
Trước đây tôi được nghe nhân viên tư vấn, sau 2 năm tôi muốn tham gia nữa thì công ty sẽ cho tôi tham gia. Còn không thì chấm dứt, hủy hợp đồng sẽ được nhận lại toàn bộ tiền tôi đã đóng. Nhưng khi tôi đến làm việc với Công ty, thì công ty trả lời rằng tôi ko thể lấy lại tiền đó, do Nhân viên tư vấn sai quyền lợi, giờ nhân viên đó đã nghỉ việc tại công ty.
Vậy tôi phải làm gì để lấy lại tiền đó?Tôi kiện nhân viên tư vấn đó thì có sơ sở pháp lý để kiện không?
Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Theo Quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010:

Theo Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm;

2. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;

3. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Điều 24. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

1. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm.

2. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

3. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian gia hạn theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

4. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trong các trường hợp khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.Như vậy trong trường hợp khách hàng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn bên mua bảo hiểm sẽ nhận được Giá trị hoàn lại (nếu có) của hợp đồng. Giá trị hoàn lại nhận được nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm.

Theo Điều 35 của Luật Kinh doanh bảo hiểm này quy định: “… bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.”.

Theo đó, nếu hợp đồng bảo hiểm vì lý do nào đó bị hủy ngang trước khi đóng đủ hai năm phí, khách hàng sẽ không nhận được tiền hoàn lại.

Theo các quy định trên thì thời hạn tham gia bảo hiểm của bạn mới chỉ được một năm, chưa đủ điều kiện để được hoàn lại số tiền bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm từ chối hoàn tiền cho bạn và cho rằng do lỗi của nhân viên tư vấn, nhân viên tư vấn sai và không chịu trách nhiệm với những thiệt hại của bạn. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 87 Bộ Luật Dân sự 2015:

Điều 87. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân
1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.
Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Pháp nhân có trách nhiệm quản lý nhân viên của họ. Khách hàng chỉ quan tâm là giao dịch đã ký với pháp nhân phải được tôn trọng và thực hiện đúng thỏa thuận. Như vậy, nếu bạn có thể chứng minh rằng lợi ích chính đáng của bạn bị ảnh hưởng do lỗi sai của nhân viên công ty bạn hoàn toàn có thể khởi kiện để được bồi thường.

Trường hợp người trực tiếp tư vấn bảo hiểm cho bạn không phải là nhân viên công ty mà chỉ mà đại lý bảo hiểm thì công ty vẫn phải chịu trách nhiệm về những lỗi sai mà đại lý bảo hiểm gây ra theo quy định tại điều 88 Luật Kinh doanh bảo hiểm như sau:

“Trong trường hợp ĐLBH vi phạm hợp đồng ĐLBH, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì DNBH vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do ĐLBH thu xếp giao kết; ĐLBH có trách nhiệm bồi hoàn cho DNBH các khoản tiền mà DNBH đã bồi thường cho người được bảo hiểm”

Theo những quy định trên, bạn cần đưa ra bằng chứng chứng minh lỗi sai của nhân viên bảo hiểm/ đại lý bảo hiểm của công ty đó để làm cơ sở cho việc khởi kiện.

4. Đòi lại tiền từ môi giới khi không đi nước ngoài được ?

Xin chào luật sư Minh Khuê, mong các anh giúp em giải thích thắt mắc này ạ. Em đã từng lao động ở Nhật về 1-2013, vì muốn trở lại Nhật nữa nên đầu năm 2015 em có đưa hồ sơ cho người bạn lúc còn ở Nhật đã quen để làm thủ tục, bạn em đã giới thiệu cho em một người bảo lãnh tên Trần Thanh Quang sinh 1982 quê ở Đồng Nai.
Chúng em có tất cả 3 người đi, vào tháng 4 và 5-2015 chúng em đã có visa và xuất cảnh 16-5-2015 nhưng tại sân bay NARITA Tokyo Nhật Bản, chúng em không được nhập cảnh, giờ chúng em muốn lấy tiền lại, số tiền của mỗi người là 10000 USD nhưng anh Quang không trả lại.
Vậy mong các luật sư tư vấn giúp em, em phải đến cơ quan pháp luật nào để họ xử lý a? giấy tờ liên quan chung em có là: biên nhận lúc giao tiền, anh Quang có lăn tay ký tên và có người giới thiệu làm nhân chứng ạ. Còn có video ghi âm cuộc nói chuyện giữa 2 bên và các giấy tờ ngày đi và về nữa ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

- Theo như bạn trình bày thì khi bạn đã có visa nhưng lại không xuất cảnh được thì có thể visa của bạn không hợp pháp và không đúng mục đích nên bị hủy bỏ, nhưng bạn có quyền đòi lại số tiền đã đưa cho người bảo lãnh khi đã trừ hết chi phí làm các thủ tục trước đó. Nếu bạn vẫn liên lạc được với người đó nhưng người đó không trả thì bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nơi người đó đang cư trú, làm việc để đòi lại số tiền đó.

- Khi bạn liên lạc với người đó mà người đó nhất quyết không trả thì có thể chia ra làm hai trường hợp sau:

Thứ nhất, nếu ngay từ ban đầu, người đó đã không có khả làm thủ tục cho bạn đi xuất khẩu lao động nhưng có thủ đoạn gian dối để bạn lầm tưởng có thể giúp bạn được và giao tiền cho người đó, cho nên có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 :

Thứ hai, nếu ban đầu người đó có khả năng giúp bạn đi xuất khẩu lao động được và không dùng thủ đoạn gian dối mà bạn tự nguyện giao tiền. Nhưng sau đó bạn không nhập cảnh được, và nảy sinh ý định chiếm đoạt thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Để lấy lại được số tiền đó, bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an cùng với đó là đưa ra các bằng chứng như giấy tờ, cuộc ghi âm, người làm chứng...để công an có căn cứ giải quyết.

5. Tư vấn môi giới lao động đi làm việc ở nước ngoài ?

Thưa luật sư, Luật sư cho em hỏi vấn đề của em như sau: Tháng 11 năm 2014, Em có nhận thông tin từ anh A là có 3 chỉ tiêu đi lao động bên Úc, do tin tưởng anh A nên em đã giới thiệu cho chị B.
Chị B có 3 lao động trong đó 1 lao động là con trai của chị B. Khi anh A thông báo 3 lao động đó đã có visa và phải nộp hết tiền thì em cũng thông báo với chị B là đã có visa và nộp đủ tiền. Trong khi chị B nộp tiền cho em, em đã ghi phiếu thu đóng dấu công ty, không có hợp đồng, công ty chồng em làm giám đốc và không có chức năng đưa người đi làm việc ở nước ngoài. Trong giấy nộp tiền em ghi rõ là đi lao động bên Úc. Còn khi em đưa tiền cho anh A cũng có ghi giấy nhưng không đóng dấu công ty anh ấy mà chỉ ghi nhận tiền lo cho 3 lao động sang Úc. Đến thời điểm này lao động không đi được và em đã trả chị B 1,5 tỷ. Còn anh A chỉ đưa cho em 1,1 tỷ. Nếu tính usd tại thời điểm đó thì em còn nợ chị B hơn 200 triệu nữa, còn anh A nợ em hơn 400triệu. Giờ chị B ép phải trả chị đấy hết số tiền còn lại và tính tỷ giá usd bây giờ. Nhưng lúc này em chưa thu xếp được và anh A cũng chưa trả em nên em chưa trả được chị đó và chị đó nói sẽ kiện em. Toàn bộ giấy tờ đều do anh A đưa cho em để em đưa cho chị B. Chị B có mấy lần cho dân xã hội đến công ty em đòi nợ, dân xã hội còn gọi điện và nhắn tin đe dọa em nữa, cũng như xúc phạm gia đình bố mẹ em.
Em muốn hỏi luật sư trong trường hợp này chồng em có bị liên quan không? (lúc đầu chồng em không biết gì, mãi về sau mới biết khi sự việc không thành). Còn em sẽ bị liên quan gì ạ?
Rất mong được sự đáp lại của Luật sư. Cảm ơn Luật sư.

Tư vấn môi giới lao động đi làm việc ở nước ngoài ?

Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài gọi : 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày, người có nghĩa vụ phải trả lại bạn và chị B số tiền còn thiếu là anh A. Nếu không trả số tiền này, bạn và chị B có thể khởi kiện anh A vì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Khoản 3, Điều 175, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

"3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm :

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng."

Còn việc chị B gọi xã hội đen đến chỗ bạn đòi nợ, bạn có thể cùng chị B thương lượng và bàn bạc về việc trả tiền. Nếu không nhất trí được và chị B tiếp tục gọi xã hội đen tới, bạn có thể trình báo lên Công an yêu cầu giải quyết. Chị B và nhóm xã hội đen có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 7 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;

c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;

b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;

c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;

d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;

đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

g) Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

h) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức;

i) Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm;

k) Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;

m) Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;

b) Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán "đèn trời".

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm g Khoản 2; Điểm a, l, m Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

6. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điểm k Khoản 3 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Việc bạn sử dụng con dấu của công ty chồng bạn sẽ không liên quan đến chồng bạn, khi bạn sử dụng con dấu của công ty, người có thẩm quyền quyết định là chồng bạn không biết về việc này, công ty lại không có chức năng đưa người đi làm việc ở nước ngoài. Nếu đủ căn cứ khởi tố hình sự về tội lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bạn là đối tượng trực tiếp chịu trách nhiệm, không phải chồng bạn, trừ trường hợp có căn cứ về việc chồng bạn biết và cùng hợp tác.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự - Luật Minh Khuê