1. Gia đình và sự phát triển tội phạm tiềm năng

Thuyết học tập xã hội của nhà tâm lý học Albert Bandura cho rằng quá trình học tập của con người bao gồm các hoạt động quan sát, bắt chước và hình mẫu hóa.  Với trẻ em, việc bị “phơi nhiễm” một môi trường bạo lực gia đình, cha mẹ mâu thuẫn to tiếng và có hành vi đập phá trong thời gian dài sẽ hình thành quy luật hành vi với chúng và tăng tỉ lệ bắt chước hành vi đó. Gelles cho rằng “gia đình không chỉ khiến người ta tiếp xúc với bạo lực và các phương thức bạo lực, gia đình còn dạy họ rằng việc sử dụng bạo lực là chấp nhận được”, có thể hiểu rằng trẻ em trong các gia đình bạo lực có tiềm năng sử dụng bạo lực làm phương thức để giải quyết vấn đề cuộc sống cũng như thay đổi thái độ của người khác cho hợp ý mình.

Thuyết “vòng lặp tội phạm” chứng minh rằng tội phạm bạo lực có thể truyền qua theo thế hệ, việc cha mẹ xảy ra ẩu đả, cha mẹ đánh đập con cái có khả năng làm con họ lặp lại hành vi đó với con của mình. Bài nghiên cứu của Hotaling và Sugarman (1986) về bạo lực gia đình cho thấy việc chứng kiến hành vi bạo lực giữa cha mẹ là một yếu tố tiềm năng hình thành xu hướng bạo lực ở cả nam và nữ giới.

Nghiên cứu đã chỉ ra 7 tác động đến gia đình nhằm giảm thiểu sự phạm tội ở trẻ em và thanh thiếu niên:

(1) phòng ngừa mang thai khi còn nhỏ tuổi;

(2) cung cấp sự hỗ trợ và tư vấn cho mẹ và trẻ sơ sinh;

(3) hướng dẫn tăng chất lượng chăm sóc gia đình;

(4) hỗ trợ giao dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn;

(5) giúp đỡ bậc cha mẹ nếu họ đang gặp khó khăn và căng thẳng;

(6) tăng cường các biện pháp bảo vệ trẻ và thanh niên khỏi bạo hành;

(7) giảm tỉ lệ trẻ em vô gia cư.  

 

2. Đặc điểm của thiết chế gia đình trong phòng ngừa tội phạm

Phòng ngừa tội phạm bạo lực bằng thiết chế gia đình có tính nhắm vào gốc rễ của tội phạm, triệt tiêu các yếu tố trong gia đình hình thành nên xu hướng bạo lực, tính cách hung hăng của trẻ em và trẻ vị thành niên, giảm mức độ xảy ra hành vi phạm tội bạo lực sau này.

Thiết chế gia đình có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với các thiết chế khác, chúng bổ trợ và bù trừ cho nhau. Ví dụ như thiết chế gia đình và thiết chế trường học có mối quan hệ mật thiết ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển tính cách của trẻ vị thành niên, môi truòng giáo dục tốt và việc học hỏi từ các bạn học, giáo viên có thể giảm thiểu sự ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý và tính cách của trẻ em  từ phía gia đình.

Việc thực hiện thiết chế gia đình phải có sự nghiên cứu về mối liên hệ giữa tội phạm và gia đình. Cụ thể là phương pháp quan sát và thu thập dữ liệu về gia đình của người thực hiện hành vi tội phạm, điều tra làm rõ các yếu tố của một gia đình sinh ra tội phạm từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục hiệu quả, phù hợp.

 

3. Vai trò của các chủ thể phòng ngừa tội phạm bạo lực qua thiết chế gia đình

Theo người viết, có bốn nhóm chủ thể chính đều có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa tội phạm bạo lực qua thiết chế gia đình: nhóm chủ thể có quyền lực nhà nước; nhóm chủ thể thực hiện hoạt động nghiên cứu về tội phạm; nhóm chủ thể trong gia đình; các tổ chức xã hội, trường học.

Nhóm chủ thể có quyền lực nhà nước có khả năng đưa ra các biện pháp, chương trình thực tế, ban hành pháp luật liên quan điều chỉnh đến các quan hệ xã hội ảnh hưởng tới sự hình thành tội phạm trong gia đình, hỗ trợ các gia đình cải thiện môi trường sống.

Nhóm chủ thể nghiên cứu về tội phạm thu thập cá dữ liệu thực tế từ các gia đình tội phạm, đưa ra các mô hình, học thuyết và thông tin số liệu cụ thể về tình hình tội phạm, các khiến nghị để dựa vào đó nhóm chủ thể có quyền lực nhà nước xây dựng và  thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm tốt hơn

Nhóm chủ thể là thành viên trong gia đình trực tiếp làm tốt vai trò của mình trong nuôi dưỡng , dạy dỗ trẻ, tạo môi trường phù hợp cho trẻ phát triển, ngăn chặn xu hướng thực hiện tội phạm của trẻ.

Nhóm chủ thể  là các tổ chức xã hội, trường học đặc biệt là tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trỡ gia đình và phát triển con người  giúp cha mẹ và trẻ vị thành niên học hỏi  phương pháp nuôi dạy con tốt, phương pháp phát triển bản thân, định hướng các phương án phát triển, trợ giúp về tâm lý, giúp cân bằng áp lực.

 

4. Pháp luật Việt Nam về thiết chế gia đình trong phòng ngừa tội phạm bạo lực

Pháp luật Việt Nam đã công nhận vai trò quan trọng của gia đình đối với sự phát triển và tồn tại của xã hội, thiết chế gia đình trong phòng ngừa tội phạm thể hiện trong pháp luật Việt Nam qua các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các quan hệ xã hội xoay quanh gia đình, ngoài ra còn được các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước điều chỉnh, luôn nhấn mạnh “gia đình là hạt nhân của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”

Chính chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: “Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”

Trong những năm gần đây nổi bật có nghị quyết liên tịch số 01/TW giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Bộ Công an về "Quản lý, giáo dục người thân trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội" giai đoạn 2017 – 2020, trong đây đẩy mạnh vai trò của Hội phụ nữ và lực lượng Công an,  nhìn chung nhắm vào giáo dục cho các gia đình, nâng cao hoạt động tham gia phòng ngừa tội phạm đặc biệt  chú ý vai trò của phái nữ.

Sự thể hiện trong luật trẻ em: công nhận các quyền cơ bản của trẻ em, bảo vệ trẻ em khỏi sự xâm phạm quyền từ các chủ thể khác,  luật trẻ em 2016 gồm 7 chương và 106 điều, quy định 25 quyền cơ bản của trẻ em như quyền sống tại điều 12,  quyền được khai sinh, quyền được chăm sóc sức khỏe tại điều 14 quy định trẻ em  được nhận sự chăm sóc tốt nhất, tại điều 15 quy định trẻ em có quyền được nuôi dưỡng và phát tiển toàn diện. Luật trẻ em cho thấy vai trò bảo đảm việc thực hiện quyền trẻ em không chỉ có nhà nước mà toàn xã hội đều có trách nhiệm này. Đặc biệt luật trẻ em có quy định về trẻ em thuộc “trường hợp đặc biệt” (điều 10) và việc Chính phủ quy định các chính sách hỗ trợ với các nhóm trẻ em này. Việc ban hành một đạo luật riêng về trẻ em cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ các chủ nhân tương lai của đất nước đã được công nhận, là sự yêu cầu xã hội nói chung, các gia đình nói riêng tuân thủ và nhận thức được vai trò của mình trong việc đảm bảo sự  phát triển toàn diện cho trẻ em trở thành con người có ích cho xã hội, khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn cho rằng trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, đầu tư cho trẻ em là con đường chắc chắn đưa đất nước phát triển. 

 Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân gia đình, tạo nên chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của thành viên trong gia đình, nhằm xây dựng gia đình văn hóa, là môi trường để trẻ em phát triển. Trong đây ngoài quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái, quyền và nghĩa vụ của các thành viên với nhau còn quy định trách nhiệm của nhà nước và xã hội với hôn nhân và gia đình. Luật này còn quy định các hành vi bị cấm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, bởi nêu để những trường hợp hành vi đó xảy ra thường là hành phúc gia đình không yên ấm, xảy ra bạo lực ra đình hoặc các vấn nạn khác, sinh ra tội phạm.

Có thể thấy tình trạng trẻ em mồ côi, vô gia cư cũng là một nhân tố sinh ra tội phạm tiềm năng, luật con nuôi 2010 đã quy định nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi(điều 1), nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình (điều 2). Góp phần giảm tỉ lệ trẻ em mồ côi, vô gia cư, hỗ trợ các em được hưởng các quyền cơ bản, được phát triển toàn diện, phát huy tiềm năng bản thân trong môi trường thuận lợi.

 

5. Sự thể hiện trong tình hình thực tiễn

Do gặp khó khăn trong việc tìm kiếm số liệu thống kê chính xác về tội phạm vị thành niên và kết quả thực hiện các đề án, chiến lược, nên các thông tin sau đây chưa thể phản ánh đầy đủ tình hình phòng ngừa tội phạm bạo lực qua thiết chế gia đình.

Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an, trung bình mỗi năm có ít nhất 13.000 người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật. Phần lớn là vi phạm hành chính,trung bình chiếm gần 63%, giai đoạn 2013-2019 giảm mạnh (66%), trong khi số vụ phạm tội hình sự giảm với tốc độ chậm hơn nhiều (gần 35%). Điều đó khiến cho tỷ trọng các vụ phạm tội hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện tăng lên. Các vụ ẩu đả do học sinh, trẻ vị thành niên mặc dù đã bị lên án gay gắt, nhiều địa phương đã có văn bản yêu cầu chấn chỉnh hiện tượng này nhưng chủ yếu là nhằm vào phía nhà trường, chưa có sự tác động với phía gia đình. Nguyên do của những vụ ẩu đả thường là những lí do không đáng kể, do ghen tuông, mâu thuẫn trên mạng xã hội, không ưa nhau, nhìn đểu nhau…

Tại Hạ Long trong năm 2019 có hai nam sinh cấp ba tên H và T học tại trường NBK, hai nam sinh này có tính cách ngỗ nghịch, máu lạnh,. Có thái độ nguy hiểm và có xu hướng bạo lực, coi thường sức khỏe và tính mạng của người khác, chính qua lời kể của H dù chưa được xác thực, H kể tối trước ngày hôm ấy đã dùng dao đâm một người khác nhập viện với thái độ tỉnh bơ còn T thì thường xuyên vắng mặt, trốn học để đi “giải quyết công việc xã hội”. Được biết H và T kết bạn từ nhỏ, gia đình đều thuộc dạng “máu mặt” không sợ ai, ít quan tâm giáo dục con cái. Chứng kiến thực tế đã thấy H sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn cá nhân trong chính phạm vi lớp học, một lần sử dụng hung khí đánh vào đầu bạn  họ, nếu không được ngăn cản thì còn tiếp tục ra tay dã man, một lần khác H ẩu đả với bạn học trong lớp, sử dụng lời lẽ đe dọa, gọi bè phái quen biết để hẹn “xử lý” mâu thuẫn. Về nam sinh tên T qua lời kể của nhiều nhân chứng, T bị đúp học đã cầm hung khí sắc nhọn đuổi giáo viên chạy quanh sân trường.

 

6. Phân loại tội phạm

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù;

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.