1. Văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp là gì ?

Văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp là giấy chứng nhận bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá, các đối tượng sở hữu công nghiệp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật.

Quy định về văn bằng bảo hộ SHCN:

Văn bằng bảo hộ là chứng chỉ duy nhất của nhà nước xác nhận quyền sở hữu công nghiệp của chủ thể được cấp văn bằng, quyền tác giả của tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và xác nhận khối lượng bảo hộ đối với quyền sở hữu công nghiệp.

Văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trên phạm vỉ lãnh thổ cửa quốc gia cấp văn bằng. Văn bằng bảo hộ do Cục sở hữu công nghiệp thuộc Bộ khoa học, công nghệ cấp có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo pháp luật Việt Nam, có các loại văn bằng bảo hộ:

1) Bằng độc quyền sáng chế (văn bằng bảo hộ sáng chế) có hiệu lực 20 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ;

2) Bằng độc quyền giải pháp hữu ích (văn bằng bảo hộ giải pháp hữu ích) có hiệu lực 10 năm;

3) Bằng độc quyển kiểu dáng công nghiệp (văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp) có hiệu lực 5 năm, có thể gia hạn liên tiếp 2 lần, mỗi lần 5 năm;

4) Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hoá (văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá) có hiệu lực 10 năm và có thể được gia hạn liên tiếp nhiều lần, mỗi lần 10 năm;

5) Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá (văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá) có hiệu lực 10 năm và có thể được gia hạn liên tiếp nhiều lần, mỗi lần 10 năm.

2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là gì ?

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ sản phẩm trí tuệ, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp.

Quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp:

Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp có thể là tác giả, chủ văn bằng bảo hộ hoặc người sử dụng hợp pháp đối tượng quyền sở hữu công nghiệp.

Bộ luật dân sự Việt Nam quy định đối tượng của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa và các đối tượng khác được pháp luật quy định. Muốn đối tượng được bảo hộ thì chủ

sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp phải nộp đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ. Những đối tượng sở hữu công nghiệp trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tác nhân đạo và đối tượng khác mà pháp luật về sở hữu công nghiệp có quy định không được bảo hộ thì không được Nhà nước cấp văn bằng bảo hộ.

3. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là gì ?

Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là chủ sở hữu đối với: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên xuất xứ hàng hóa... được xác lập theo văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

4. Quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế là gì ?

Quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân nước ngoài đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi, xuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định.

So với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp mang tính chất lãnh thổ triệt để hơn. Nếu quyền tác giả về tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học chỉ xuất hiện với điều kiện là đã xuất hiện tác phẩm dưới bất kì hình thức nào thì quyền sở hữu công nghiệp chỉ xuất hiện sau khi được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia cấp văn bằng bảo hộ. Văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trong phạm ví lãnh thổ của quốc gia cấp văn bằng. Do đó, để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở một quốc gia nào cần phải nộp đơn xin cấp văn bằng tại quốc gia đó.

Việc công nhận và cấp văn bằng bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật mỗi nước và các điều ước quốc tế có liên quan.

Quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ thì được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam. Cá nhân, pháp nhân nước ngoài thuộc các trường hợp sau đây có quyền yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của mình tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ như đối với chủ thể Việt Nam:

1) Cá nhân, pháp nhân được hưởng quyền theo Công ước Pari 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;

2) Cá nhân hoặc pháp nhân thuộc các nước cùng kí với Việt Nam thoả thuận bảo hộ lẫn nhau về sở hữu công nghiệp hoặc cùng Việt Nam chấp nhận nguyên tác có đi có lại trong việc bảo hộ sở hữu công nghiệp " cho công dân, pháp nhân của nhau.

Công dân, pháp nhân thuộc các nước thành viên của Thoả ước Mađrit được hưởng mọi quyền và chịu mọi nghĩa vụ liên quan nếu nhãn hiệu hàng hoá được đăng kí quốc tế, trong đó có chỉ định Việt Nam và không bị Việt Nam từ chối. Công dân, pháp nhân thuộc các nước thành viên của Hiệp ước PCT có thể nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích tại Việt Nam theo Hiệp ước đó và theo thủ tục do Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ quy định.

Trong trường hợp điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác với các quy định của pháp luật trong nước thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

5. Chủ văn bằng sở hữu công nghiệp là gì ?

Chủ văn bằng sở hữu công nghiệp là người có tên được ghi trên văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Quy định về chủ văn bằng SHCN

Chế định chủ văn bằng sở hữu công nghiệp được quy định trong luật của các nước và luật pháp quốc tế, như là một trong các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp. Chủ văn bằng sở hữu công nghiệp là người được pháp luật thừa nhận có quyền sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp được đăng kí bảo hộ và là người có độc quyền khai thác hoặc cho phép khai thác các tiện ích kinh tế gắn liền với đối tượng sở hữu công nghiệp đó, trong thời hạn bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp. Chế định chủ văn bằng sở hữu công nghiệp chủ yếu gồm các quy định của Bộ luật dân sự, Nghị định số 63/CP ngày 24.10.1996 và Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01.02.2001 của Chính phủ. Hai công ước lớn nhất về sở hữu công nghiệp và cũng là hai văn bản pháp luật quốc tế có chứa đựng những quy định cơ bản nhất về chủ văn bằng sở hữu công nghiệp là Công ước Pari năm 1883, sửa đổi tại Xtôckhôm năm 1974 và Thoả ước Marakêch về các khía cạnh của quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến thương mại (còn gọi là Thoả ước TRIP) năm 1994. Ngoài ra, còn có những thoả ước liên quan đến những đối tượng sở hữu công nghiệp đặc thù, như hiệp ước hợp tác về sáng chế (PCT), kí tại Oasinhtơn năm 1984: Thoả ước Mađrit về nhãn hiệu hàng hoá, kí tại Mađrit năm 1891, sửa đối năm 1979...

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua biện pháp cấp văn bằng bảo hộ bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá. Riêng nhãn hiệu hàng hoá còn có thể được bảo hộ thông qua việc đàng kí quốc tế theo Thoả ước Mađrit.

Nói chung, có hai loại đối tượng có quyền yêu cầu nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ: người đã tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ bằng hoạt động lao động trực tiếp, độc lập của mình hoặc thông qua hoạt động sáng tạo của người lao động thuộc quyền hay của người được thuê để thực hiện việc nghiên cứu, triển khai khoa học - kĩ thuật, người được chủ sở hữu văn bằng bảo hộ chuyển nhượng quyền sở hữu đối với đối tượng được bảo hộ.

Riêng văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá chỉ được cấp cho những người hoạt động sản xuất, kinh doanh tại địa phương có tên gọi dùng để chỉ xuất xứ hàng hoá. Để được thừa nhận là chủ văn bằng sở hữu công nghiệp, chủ thể đó phải nộp một đơn xin cấp văn bằng bảo hộ tại Cục sở hữu công nghiệp thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Khi có nhiều người xin cấp văn bằng bảo hộ đối với cùng một đối tượng sở hữu công nghiệp thì việc cấp văn bằng bảo hộ được thực hiện theo nguyên täc nộp đơn đầu tiên. Trong trường hợp có hai đơn xin bảo hộ đối với cùng một đối tượng sở hữu công nghiệp, do cùng một người nộp, trong đó, có một đơn được nộp sớm hơn tại một nước khác, thì, một khi các điều kiện quy định tại Điều 17 Nghị định số 63-CP có đủ, đơn nộp sau được coi như đã nộp vào ngày nộp đơn đầu tiên. Biện pháp này được gọi là “quyền ưu tiên" (priorify). Quyền ưu tiên cũng được thừa nhận trong luật hiện hành, trong trường hợp trước khi nộp đơn yêu cầu bảo hộ, người nộp đơn đã cho trưng bày đối tượng sở hữu công nghiệp tại một triển lãm quốc tế chính thức. Các đơn xin cấp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được công bố trên công báo sở hữu công nghiệp. Cục sở hữu công nghiệp ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ trên cơ sở kết quả xét nghiệm đơn. Trong thời gian xét nghiệm, bất kì người nào cũng đều có quyền có ý kiến bằng văn bản về việc cấp hay không cấp văn bằng bảo hộ cho người nộp đơn. Văn bằng bảo hộ sau khi được cấp sẽ được đăng bạ vào Sổ đăng kí quốc gia về sở hữu công nghiệp và được đăng trong công báo sở hữu công nghiệp. Nếu trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp mà có người đã sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp này một cách độc lập thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp cho người khác, người đã sử dụng trước đó vẫn tiếp tục có quyển sử dụng đối với đối tượng sở hữu công nghiệp. Biện pháp này được gọi là “quyền sử dụng trước” (previous possession righf), được quy định tại khoản 21 Điều 1 Nghị định số 06/2001/NĐ-CP. Quyền sử dụng trước không thể được chuyển nhượng, trừ trường hợp chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng trước cùng với cơ sở kinh doanh nơi tiến hành việc sử dụng trước. Người sử dụng trước không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng so với trước ngày người khác nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ.

Chủ văn bằng sở hữu công nghiệp được hưởng các biện pháp bảo hộ đối với đối tượng sở hữu công nghiệp trong một thời hạn, gọi là thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ hay thời hạn bảo hộ. Thời hạn này được xác định tuỳ theo tính chất của đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ. Cũng tUỳ theo tính chất của đối tượng được bảo hộ mà thời hạn hiệu lực xác định của một văn bằng bảo hộ có thể được hoặc không được gia hạn.

6. Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là gì ?

Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiêp là thoả thuận bằng văn bản, theo đó, các bên chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp theo trình tự, thủ tục luật định.

Quy định về hợp đồng chuyển giao quyền SHCN:

Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thể hiện bằng văn bản. Mọi thỏa thuận miệng, công văn, thư từ, điện báo đều không có giá trị pháp lí.

Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp phải được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt trước khi tiến hành thủ tục đăng kí hợp đồng nếu:

1) Một trong các bên là tổ chức nhà nước hoặc có vốn góp liên doanh của Nhà nước, còn bên kia là cá nhân, tổ chức không thuộc Nhà nước;

2) Bên giao là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác của Việt Nam và bên nhận là cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế nếu hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật sở hữu trí tuệ về quyền sở hữu công nghiệp cũng như các vấn đề khác liên quan.Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ - Công ty luật Minh Khuê