Nghị luận về ý kiến: Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người - Mẫu số 1

Bao giờ cũng thế, văn học, cuộc sống và con người là những yếu tố không thể tách rời nhau, không thể tồn tại riêng biệt. Tồn tại một sợi dây vô hình kết nối chặt chẽ văn học và cuộc sống, tạo nên mối quan hệ vô cùng mật thiết và sâu sắc. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã phát biểu rất ý nghĩa: "Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người. Mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của một chặng đời sống con người ta, trên con đường dài dằng dặc đi đến cõi hoàn thiện."

Nguyễn Minh Châu, một nhà văn với ngòi bút sắc sảo, luôn khơi dậy trong lòng độc giả những lớp sóng suy tư, băn khoăn, day dứt về cuộc đời, về những người xung quanh, và về chính bản thân mình. Ông là một nhà văn đầy bản lĩnh và kinh nghiệm, tất nhiên sẽ có một nhận thức sâu sắc và đầy đủ về mối quan hệ giữa đời sống và văn chương. Trong câu nói của ông, ta bắt gặp một hình ảnh so sánh độc đáo: "văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm - mà tâm điểm là con người". Đây là một hình ảnh ví von thú vị, cô đọng nhưng chứa đựng ý tưởng sâu sắc. Hai vòng tròn "văn học" và "đời sống" không tách rời nhau mà cùng xuất phát từ một tâm điểm, nghĩa là hình ảnh và bóng dáng của triệu triệu sự vật, hiện tượng trong cuộc đời đều phản ánh trên những trang văn.

Theo một quy luật của tạo hóa, văn học và đời sống luôn tồn tại trong một mối quan hệ hòa quyện vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau để cùng sống mãi. Một nhà văn hay một thi sĩ phải luôn đắm mình vào cuộc sống, lắng nghe hơi thở và nhịp đập của đời sống biến đổi từng giây để chắt lọc những gì tinh túy nhất mang vào trang viết. Tách khỏi cuộc sống, tác phẩm sẽ như cây non không có rễ, cây sẽ hút nước ở đâu, hút nhựa sống từ nơi nào để đơm hoa kết trái? Nhà thơ Chế Lan Viên đã thấm thía sâu sắc về mối quan hệ giữa đời và thơ khi nói:

"Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vãi

Hãy nhặt những chữ của đời mà góp nên trang."

(Nghĩ về thơ)

Những dòng chữ gợi lên trong lòng người đọc nỗi xót xa hay làm nổi bật tiếng khóc nức nở, nụ cười mỉa mai, nỗi đau quặn thắt... tất cả đều là những "chữ của đời", là chất liệu của cuộc sống muôn hình muôn vẻ mà nhà thơ, nhà văn đang tồn tại trong lòng nó. "Văn học và đời sống" là hai vòng tròn nhỏ nằm gọn trong lòng cuộc sống và cuộc sống là vòng tròn lớn hơn nhận ánh phản chiếu lại bóng hình của nó. Văn học còn là sự nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc sống. Chính vì thế mà có nhà văn đã nói rằng: "Chức năng của văn học là tiếng chuông thức tỉnh lương tri." Xuất phát từ cuộc sống, văn học được những bàn tay nghệ sĩ tôi luyện nhào nặn, từ những "hạt bụi quý" rơi vãi giữa đời sống mênh mông, văn học xuất hiện dưới hình hài của một "bông hồng vàng" (Pautôpxki), trở lại với đời, dâng tặng cho đời những gì lấp lánh cao quý nhất.

Hai vòng tròn kỳ diệu ấy bắt nguồn từ đâu? Theo nhà văn Nguyễn Minh Châu, tâm điểm của chúng chính là "con người". Từ thuở trái đất còn là những cánh đồng nguyên sinh bạt ngàn với những đại dương trùng trùng sóng vỗ cho đến khi trái đất với những chiếc phi thuyền có thể vút lên mặt trăng, sao hỏa của thế kỷ XX, con người không ngừng làm thay đổi thiên nhiên và nâng cao cuộc sống của mình lên tầm vóc ngày càng cao hơn. Con người quả thật là tâm điểm của cuộc sống.

Văn học là chiếc gương phản ánh và chiêm nghiệm về đời sống, nên văn học cũng lấy con người làm tâm điểm trên những trang thơ, trên những dòng truyện ngắn hay trang tiểu thuyết đồ sộ. Theo những nhà nghiên cứu lịch sử nhân loại, hình thức sám hối chủ yếu là tôn giáo và nghệ thuật. Nếu ở nhà thờ hay ngôi chùa, người ta sám hối với Chúa, với Phật, thì trong văn học, người ta sám hối với chính mình, với bao tình cảm yêu thương, oán hận, căm hờn, xót xa, sợ hãi... với bao mối quan hệ rộng rãi, quan hệ giữa người với người, người với thiên nhiên hoa cỏ, người hình thức với người nội tâm chính mình. Một khi soi bóng vào tấm kính kỳ diệu của văn chương, con người không khỏi ngỡ ngàng vì bắt gặp cái tôi trong ấy. Con người bao giờ cũng là đối tượng chủ yếu của văn học. Ngay cả những truyện ngụ ngôn mà khi đọc, ta chỉ thấy con cáo, chùm nho, những con thỏ, con rùa, con sóc... đấy cũng là bóng dáng của con người. Con người còn "ẩn mình" trên những trang thơ dưới hình ảnh của cảm xúc, của nội tâm. Có thể nói, bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng hướng về con người, viết về con người và cho con người suy ngẫm.

Cuộc sống là một bức tranh với tầm vóc không gian và thời gian vô tận nên một nhà văn chỉ nắm bắt được một vài khía cạnh trong cái tầm vóc vô cùng ấy. Sự so sánh tiếp theo của Nguyễn Minh Châu cũng thật xác đáng khi ông nói: "Mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của một chặng đời sống con người ta, trên con đường dài dằng dặc đi đến cõi hoàn thiện." Hầu hết mỗi nhà văn có phong cách riêng, có một chỗ đứng trong lòng người đọc trên trái đất này đều khai thác quặng chất liệu từ một mảng nhỏ của đời sống. Cá biệt có những đại văn hào mà ngòi bút bé nhỏ của họ có thể giãi bày cuộc sống với tầm vóc sâu rộng trên trang viết. Đấy là Balzac với "Tấn trò đời", mà giá trị được sánh hơn tất cả các tác phẩm của các sử gia, các nhà kinh tế học, thống kê học đương thời cộng lại. Bên cạnh đó, hầu hết các tác phẩm đều tồn tại dưới những sắc thái riêng vì chúng chỉ là "lát cắt từ hai vòng tròn đồng tâm" khổng lồ của văn học và đời sống. Đọc Nam Cao, ta lại hình dung đến không khí ngột ngạt của những năm 1930-1945 với những con người từng bước chông chênh trên con đường đi tìm nhân cách. Chí Phèo đắm mình trong một chuỗi những cơn say triền miên để phút cuối cùng của đời mình lại tự hỏi một cách cay đắng: "Ai cho tao lương thiện?"...

Mỗi tác phẩm đều là một lát cắt của đời sống, phản ánh một nội dung rất cụ thể, một số phận rất rõ nét, buộc người đọc phải suy ngẫm, băn khoăn. Vô số những lát cắt của rất nhiều thời đại cuối cùng đều hướng tới một mục tiêu tốt đẹp, dẫn dắt con người đi đến cõi hoàn thiện. Có vươn tới mục tiêu đó, tác phẩm văn học mới thực sự là một tác phẩm chân chính và tồn tại vượt qua sức công phá mãnh liệt của thời gian. Pautôpxki từng nói về những vần thơ của Andersen với niềm cảm phục: "Anh đã nhặt những hạt giống thơ trên luống đất của người dân cày rồi gieo chúng trong những túp lều, làm chúng nở thành những đóa hoa thơ tuyệt đẹp an ủi trái tim của những người cùng khổ." Andersen tự nhận mình là nhà văn của những người nghèo và suốt cuộc đời viết lách, ông không một chút nào phản bội lại đối tượng mà ông phục vụ. Con đường dẫn dắt chúng ta đến với cõi hoàn thiện, quả thật là rất dài và rất xa. Trên con đường ấy, ta không chỉ hành trình bằng nhân cách, bản lĩnh của riêng mình mà đôi lúc dừng chân ngơi nghỉ, chúng ta nên soi lại mình qua những tác phẩm văn chương, bởi vì "văn học là nhân học" (M. Gorki). Soi lại mình, chiêm nghiệm lại mình trong tấm gương văn học, ta sẽ phân biệt được lẽ đúng - sai, tốt - xấu, chân - giả... của cuộc đời và những bước chân sẽ vững chãi hơn, dù cho con đường bên dưới nhiều chông gai và mấp mô sỏi đá. Tác dụng của văn học chỉ là một lát cắt nhỏ nhưng những gì mà ta lĩnh hội được là vô tận bởi vì "lăng kính nhìn đời" - nhân sinh quan, thế giới quan của mỗi con người mang một đặc điểm riêng biệt. Có thể ta sẽ tìm thấy trong các tác phẩm văn học này những điều mà người khác không tìm thấy, bởi từ đáy lòng ta có một nhịp rung cảm riêng, một tần số cộng cảm riêng.

Lời nhận định của Nguyễn Minh Châu ngắn gọn mà đầy ý nghĩa, rất sâu sắc, rất đáng nghĩ. Văn học và cuộc sống mãi mãi không thể tách rời nhau và cả hai đều xuất phát, bắt nguồn và hướng về một tâm điểm duy nhất: con người. Ta chợt nhớ đến những vần thơ của Tố Hữu:

"Nhân dân là bể

Văn nghệ là thuyền

Thuyền xô sóng đẩy

Sóng đẩy thuyền lên."

(Thanh niên xa mẹ)

Văn học luôn gắn liền với cuộc sống và con người để có sức sống trụ lại với thời gian, để thực hiện chức năng cao cả không một bộ môn khoa học nào thay thế được: hướng con người đến chân - thiện - mỹ, gột rửa những xấu xa của cuộc đời phức tạp, góp phần thanh lọc tâm hồn và lương tâm con người để có cuộc sống tốt đẹp hơn.

 

Nghị luận về ý kiến: Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người - Mẫu số 2

Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm không gì khác ngoài con người. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tinh tế nhận định rằng, mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một bản ghi chép của những chặng đời người trên con đường dài đằng đẵng đi đến cõi hoàn thiện. Lời nhận định này không chỉ giải đáp câu hỏi về mối liên hệ giữa văn học và hiện thực mà còn khẳng định rằng giao điểm giữa hai thế giới ấy chính là con người. Nhưng tại sao lại có thể khẳng định như vậy? Liệu có minh chứng nào cho kết luận ấy hay không?

Những độc giả yêu thích văn học kinh điển hẳn không xa lạ với "Trăm năm cô đơn" của Gabriel Garcia Marquez. Nhưng có thể nhiều người chưa biết rằng ngôi làng Macondo trong truyện chính là một sản phẩm của trí tưởng tượng, dựa trên những ký ức thời thơ ấu của tác giả về ngôi làng quê hương ông. Trong cuốn hồi ký "Sống để kể lại", Marquez khẳng định rằng nhiều sự kiện và nhân vật trong "Trăm năm cô đơn" được ông lấy cảm hứng từ cuộc đời thật. Đại tá Aureliano Buendia có nhiều điểm tương đồng với ông ngoại của Marquez, cũng là một đại tá thuộc phái Tự do trong chiến tranh. Hay như nhân vật Jose Arcadio Buendia trong tiểu thuyết, đã giết một người trong cuộc thách đấu, chi tiết này trùng khớp với sự kiện từ cuộc đời ông ngoại của tác giả. Nhân vật Ursula Iguaran lại mang những nét của bà ngoại Marquez, người cuối đời bị mù. Còn nhóm bạn của Aureliano Babilonia ở phần cuối truyện, trong đó có một nhân vật mang họ Marquez, là nhóm bạn của tác giả khi ông bắt đầu sự nghiệp báo chí.

Tương tự, trong "Giết con chim nhại" của Harper Lee, các nhân vật cũng được xây dựng từ nguyên mẫu đời thực. Cha của tác giả, Amasa Coleman Lee, là một luật sư như nhân vật Atticus Finch. Năm 1919, ông bảo vệ cho hai bị cáo người da đen bị nghi ngờ giết người, hai người này sau đó bị buộc tội và bị treo cổ. Từ đó, ông không tham gia vào vụ án nào nữa. Nhân vật Dill trong truyện được xây dựng dựa trên hình ảnh của người bạn thuở nhỏ, Truman Capote, người mà sau này Lee cùng điều tra vụ án mạng tại Kansas trong cuốn sách "Máu lạnh của ông". "Giết con chim nhại" mang đến bài học về lòng dũng cảm, tình yêu thương và sự thức tỉnh lương tâm con người trong thời kỳ rối ren của miền Nam nước Mỹ.

Quay lại với văn học Việt Nam, nhà văn Ma Văn Kháng, một cây bút nổi bật của văn học đương đại Việt Nam sau Đổi Mới, chia sẻ rằng những nhân vật trong các tác phẩm của ông được lấy cảm hứng từ chính các thành viên gia đình. Trong "Mùa lá rụng trong vườn", nhân vật Đông được xây dựng từ hình mẫu của anh vợ ông, còn Lý là tổng hòa của các bà chị dâu. Hay như trong "Chí Phèo" của Nam Cao, nhân vật Bá Kiến hống hách, ác độc là một nhân vật có thật, với ngôi nhà ở làng Vũ Đại cũng được lấy nguyên mẫu từ làng Đại Hoàng, quê của tác giả.

Qua đó, ta có thể khẳng định rằng con người chính là điểm xuất phát của hành trình từ đời sống đến văn học. Không có hiện thực cuộc sống, sẽ không có hình mẫu nào để văn học soi rọi theo, không có nhân vật nào để văn học khơi nguồn cảm hứng. Văn học lấy chất liệu từ thực tế để dệt nên những con chữ, hóa thành những câu chuyện, mà con người chính là tâm điểm. Vì vậy, con người là gốc rễ, là căn nguyên của mọi sự việc diễn ra trong đời sống; đồng thời cũng là nơi xuất phát trong hành trình chinh phục văn học. Cầu nối giữa hiện thực và văn chương không ai khác ngoài con người, và chỉ có thể là con người mà thôi.

Có một sự thật không thể chối cãi ở văn học, đó là khả năng xây dựng những nhân vật có tính điển hình. Cái tài của các nhà văn chính là nhìn ra những nét điển hình của con người trong xã hội, để bất kì người đọc nào cũng có thể thấy bóng dáng nhân vật đó trong các cá nhân xung quanh họ, kể cả đó có là những nhân vật lấy cảm hứng từ thực tế. Lấy ví dụ ngay trong "Mùa lá rụng trong vườn" của Ma Văn Kháng. Mặc dù các nhân vật được xây dựng từ nguyên mẫu đời thực, song lại mang những nét điển hình của một lớp người nhất định. Như Đông là con người thời chiến, có vẻ đẹp chất phác, giản dị của người chiến sĩ trận mạc, nhưng cũng có nhược điểm là suy nghĩ đơn giản, phó mặc, một hệ quả từ cơ chế bao cấp - chính là điển hình cho đa phần các ông chồng thời kỳ đầu những năm 80. Còn Lý, người phụ nữ đáo để, khéo việc nước, đảm việc nhà, nhưng dễ bị cuốn theo những giá trị vật chất, vì vật chất mà hất bỏ cả tình thân - lại chính là đại diện cho những người phụ nữ có xuất thân từ miền quê bước đầu đổi đời trên phố thị.

Hay khi nhắc đến văn học Trung Quốc, ta không thể không nói tới tính điển hình của nhân vật AQ trong "AQ chính truyện" của Lỗ Tấn. AQ là một anh chàng thuộc tầng lớp bần nông ít học và không có nghề nghiệp ổn định. Là một cố nông, vậy mà AQ lại mang tư tưởng của giai cấp thống trị bởi lối sống với phương pháp thắng lợi tinh thần. Điều này đã tạo nên sự kỳ lạ trong tính cách của AQ. Nhưng có phải vì thế mà hình tượng nhân vật AQ thiếu nhất quán và xa rời thực tế không? Hoàn toàn không phải, trái lại AQ lại mang tính điển hình vô cùng chân thực. Phép thắng lợi tinh thần mà AQ sử dụng là một cách tự an ủi, huyễn hoặc bản thân để giúp bản thân phủi bỏ trách nhiệm sau mỗi thất bại và chối từ cố gắng. Nói cách khác, đó là trạng thái tâm lý của những kẻ thất bại nhưng không chịu thừa nhận, hơn thế còn tìm cách trốn tránh vào ảo giác thắng lợi tự mình tạo ra. Nhân vật AQ chính là điển hình cho lớp trẻ lười lao động, lười phấn đấu, không muốn sửa đổi và hoàn thiện mình mà chỉ luôn trốn tránh bằng phương pháp thắng lợi tinh thần.

Có thể nói, mỗi nhân vật trong các tác phẩm là một lần nhà văn đi "đãi vàng" trong bể cuộc đời, sao cho nhân vật vừa có nét điển hình tạo đồng cảm, vừa tự thân trở thành một cá tính riêng. Đó là lý do mà con người trở thành đích đến trong quá trình từ văn học trở về thực tại. Dù văn học có mang hình ảnh con người đi để khơi sâu, đào kỹ đến đâu, thì cũng vẫn sẽ phải mang trả con người lại với đời sống – nhưng dưới một hình tượng mang tính điển hình hơn. Cảm nhận được chiều sâu tâm hồn trong các tác phẩm văn học, là một lần cảm nhận được chính tâm hồn của người tạo ra họ: Những tâm hồn nghệ sĩ cao thượng, nhân văn, luôn nặng lòng với cuộc sống.

Một lần nữa, có thể khẳng định rằng tâm điểm khám phá của nghệ thuật và cuộc sống đều là con người. Con người là điểm xuất phát, là đối tượng khai thác chủ yếu, là đích đến của văn học; đồng thời là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi biến cố lịch sử. Nguyễn Siêu quan niệm: "Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người" cũng bởi lý do đó. Con người sẽ là nút thắt để gắn liền văn học vào cuộc sống, để nghệ thuật không còn là thứ ảo ảnh xa rời thực tiễn mà luôn là tấm gương phản ánh cuộc sống một cách chân thực và xúc động.

Việc tác giả lấy con người ra làm tâm điểm để khám phá cuộc sống, cũng như lấy con người làm đề tài sáng tác văn học thể hiện được tinh thần nhân đạo sâu sắc và cốt cách cao đẹp, tư chất nhân văn cần có của một nghệ sĩ chân chính. Đây cũng là cách các tác phẩm văn học có thể trụ lại với thời gian, để thực hiện chức năng cao cả không một bộ môn khoa học nào thay thế được - đó là hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ, gột rửa bớt những xấu xa của thói đời phức tạp, góp phần thanh lọc tâm hồn và lương tâm con người để cuộc sống tốt đẹp hơn.