- 1. Vận tải đơn trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là gì?
- 2. Quy định về vận tải đơn trong Quy tắc Hague
- 3. Nghĩa vụ của người chuyên chở trong việc cấp vận tải đơn
- 4. Dự kháng là gì?
- 5. Giá trị pháp lý của vận tải đơn
- 6. So sánh quy định về vận tải đơn theo quy định tại Quy tắc Hague và Quy tắc Hague – Visby
- 6.1. Trích dẫn quy định của Quy tắc
- 6.2. Theo Quy tắc Hague
- 6.3. Theo Quy tắc Hague - Visby
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
1. Vận tải đơn trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là gì?
Vận đơn đường biển, (Viết tắt là B/L - Bill Of Lading) Là chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển do người vận chuyển lập, ký và cấp cho người gửi hàng trong đó người vận chuyển xác nhận đã nhận một số hàng nhất định để vận chuyển bằng tàu biển và cam kết giao số hàng đó cho người có quyền nhận hàng tại cảng đích với chất lượng tốt và số lượng đầy đủ như biên nhận.
Là chứng từ rất quan trọng, về nghiệp vụ giữa người gửi hàng với người vận tải, giữa người gửi hàng với người nhận hàng. Nó như là một bằng chứng về giao dịch hàng hóa, là bằng chứng có hợp đồng chuyên chở.
2. Quy định về vận tải đơn trong Quy tắc Hague
"3. Sau khi đã nhận và đảm trách hàng hóa, khi người gửi hàng yêu cầu, ngoài những điều khác, người chuyên chở hay thuyền trưởng hay đại lý của người chuyên chở phải cấp cho người gửi hàng một vận tải đơn có ghi;
- Những mã ký hiệu chính cần để nhận diện hàng hóa theo như người gửi hàng đã khai bằng văn bản trước khi bốc hàng lên tàu, miễn là các mã ký hiệu này in hay dán một cách rõ ràng thế nào trên các hàng không có bao gói hay trên các thùng hay bao bì có chứa đựng hàng ở bên trong để các mã ký hiệu này còn đọc được cho đến khi cuộc hành trình chấm dứt.
- Số kiện hàng, hay đơn vị, hay số lượng hay trọng lượng, tuỳ từng trường họp, theo như người gửi hàng đã khai bằng văn bản.
- Tình trạng và cách đóng gói bên ngoài của hàng hóa.
Tuy nhiên, người chuyên chở, thuyền trưởng hay đại lý của người chuyên chở không buộc phải khai hay ghi trong vận tải đơn mã ký hiệu, số, số lượng hay trọng lượng mà họ có lý do đúng đắn để nghi ngờ rằng những chi tiết này không đúng với những hàng họ đã nhận, hay họ không có những phương tiện hợp lý để kiểm tra".
3. Nghĩa vụ của người chuyên chở trong việc cấp vận tải đơn
Khoản 3 quy định thêm những nghĩa vụ của người chuyên chở trong việc cấp ra một vận tải đơn làm bằng chứng cho việc đã nhận hàng hóa để chuyên chở với các nội dung quy định như: mã ký hiệu hàng hóa, số kiện hàng, số đơn vị hoặc trọng lượng, tình trạng và cách đóng gói... nhưng phải theo khai báo bằng văn bản của chủ hàng. Tuy nhiên, đoạn cuối của khoản này cũng cho phép người chuyên chở khi thực hiện nghĩa vụ phát hành vận tải đơn có quyền không ghi lên đó những vấn để theo quy định nhưng họ chưa khẳng định được là đúng như vậy hoặc được ghi thêm vào đó những ghi chú cho những nghi ngờ của họ về tình trạng hàng hóa vào lúc nhận. Quyền không ghi hoặc ghi thêm lên vận tải đơn những điều còn nghi ngờ được gọi là "quyền dự kháng" của người chuyên chở. Điều này có liên quan đến một tập quán trong hàng hải là "vận đơn sạch", vận đơn sạch là vận đơn đường biển mà ngoài những điều phải ghi theo quy định, người chuyên chở không ghi thêm những ghi chú xấu về tình trạng hàng hóa. Những vận đơn không sạch (unclean) có thể sẽ không được ngân hàng hoặc người nhận hàng chấp nhận và/hoặc sẽ gặp nhiều rắc rối trong thanh toán.
4. Dự kháng là gì?
Dự kháng là hình thức ghi chú vào vận đơn đường biển hoặc vào một văn bản riêng những nhận định sơ bộ về hiện trạng không tốt của hàng hóa để dự phòng cho việc kháng nghị sau này (vì thế mới gọi là dự kháng). Dự kháng không chỉ là quyền hạn nó còn là nghĩa vụ của chủ tàu nếu hàng hóa có vấn đề mà họ không xác định chính xác được. Nếu không thực hiện quyền này thì hàng hóa coi như là tốt và chủ tàu sẽ có thể mất quyền chứng minh. Ví dụ: tàu nhận 10.000 buồng chuối các cỡ lớn nhỏ và không thể đếm được thì trong vận đơn tuy vẫn ghi 10.000 buồng nhưng thuyền trưởng sẽ dự kháng một câu "không đếm được". Như vậy, chủ tàu sẽ không phải chịu trách nhiệm về thừa thiếu, ngược lại nếu không có dự kháng thì phải coi như hàng hóa đã được kiểm đếm và đầy đủ về số lượng và chủ tàu không thể chứng minh được điều ngược lại.
Tuy nhiên, dự kháng không phải là một nguyên tắc tuyệt đối trước hết mọi quyền khiếu nại của chủ hàng nếu chủ hàng chứng minh được là dự kháng sai. Dự kháng chỉ làm đảo ngược lại nghĩa vụ chứng minh mà thôi, nếu không có dự kháng mà hàng bị hỏng thì chủ tàu phải chứng minh là hàng hỏng không do lỗi của mình, còn nếu có dự kháng thì chủ hàng phải chứng minh. Trong quá trình vận chuyển hàng hóa bất cứ người nào phải nhận trách nhiệm vể hàng hóa mà thấy hàng không tốt hoặc nghi ngờ về tình trạng của hàng hóa đều phải dự kháng, mỗi lần chuyển trách nhiệm là một lần dự kháng nếu có hiện tượng hàng hóa bị tổn thất. Dự kháng có thể thực hiện ở nhiều nơi: ở bên đi, thuyền trưởng dự kháng với người xếp hàng, khi chuyển tải (nếu có) thì thuyền trưởng thứ hai phải dự kháng với thuyền trưởng thứ nhất, ở cảng đến, thì người nhận hàng dự kháng với thuyền trưởng...
Nếu chủ tàu chỉ ghi sẵn lên vận đơn để đề phòng, dùng cho mọi trường hợp thì không có giá trị dự kháng. Ví dụ đối với hàng chở rời chủ tàu thường ghi vào vận đơn những câu “nói rằng thể” (said to be) hoặc "nói rằng cân" (said to Weight) hoặc "cân khi giao" (shipping weight), ghi như vậy thực tế không có giá trị gì đối với Quy tắc vì đối với hàng rời dù không ghi gì thì vẫn được miễn trách đối với những vụ thiếu hụt trọng lượng nhỏ, ngược lại dù có ghi như thế thì đối với những vụ thiếu hụt lớn tàu vẫn phải chịu trách nhiệm.
5. Giá trị pháp lý của vận tải đơn
Thứ nhất, những ghi chú về hàng hóa trên vận tải đơn là những bằng chứng suy định về hàng hóa được miêu tả bởi người chuyên chở. Tham chiếu vụ Silver and Another kiện Ocean s.s. Co. năm 1930 hàng hóa là trứng đông lạnh được chuyên chở bằng thùng kim khí lớn, nhiều trứng đã bị hỏng khi tới nơi, vận tải đơn sạch và có ghi áp dụng Quy tắc Hague. Tòa Thượng thẩm đã xử là khi mà người chuyên chở đã cấp vận tải đơn có ghi hàng hóa được bốc trong tình trạng ngoại quan tốt thì không thể chứng minh là tổn thất xảy ra trước lúc bốc vì người chuyên chở có thể phát hiện bằng một phương pháp kiểm tra hợp lý, mặt khác người chuyên chở cũng không thể viện dẫn bao bì yếu kém vì nó hiển nhiên có tình trạng tốt vào lúc bốc hàng.
Thứ hai, trong các trường hợp có tổn thất, nghĩa vụ dẫn chứng thuộc về người chuyên chở theo các trường hợp miễn trách quy định tại Điều IV của Quy tắc. Tham chiếu vụ American Can Co. Ltd., kiện Governement Merchant Marine Ltd. (năm 1927) đã được quan tòa phán quyết là: "... Tôi nghĩ rằng, đối với những miễn giải khác, nghĩa vụ dẫn chứng cũng thuộc về người chuyên chở như thế, chính người chuyên chở phải viện dẫn quyền được hưởng miễn giải vì họ phải giải tỏa cho việc vi phạm suy định về hợp đồng do không giao hàng hóa trong tình trạng như lúc nhận. Tôi không nghĩ là chấp bút của Điều III đặt nghĩa vụ dẫn chứng đầu tiên thuộc chủ hàng phải chứng minh người chuyên chở đã bất cẩn. Chủ hàng chỉ cần chứng minh hàng hóa đã không được giao hoặc được giao mà hư hỏng. Người chuyên chở là người quản thủ và do đó họ phải chứng minh đã chăm sóc hàng hóa hợp lý trong khi họ giữ gìn hàng hóa và nếu có tổn thất hay tổn hại thì họ phải chứng minh nó thuộc diện miễn giải trách nhiệm. Theo tôi Quy tắc chung của Luật Anh quốc đối với người quản thủ là người này phải giao trả đồ vật quản thủ theo tình trạng như lúc nhận và người này phải chứng minh hay đưa ra lý do chính đáng về việc đã không thể giao hàng như thế. Chính người này phải phải chứng minh họ đã hành xử thận trọng hợp lý...".
6. So sánh quy định về vận tải đơn theo quy định tại Quy tắc Hague và Quy tắc Hague – Visby
6.1. Trích dẫn quy định của Quy tắc
Quy tắc Hague
"4. Một đơn vận tài như trên được coi là bằng chứng người chuyên chở đã nhận hàng hóa như miêu tả chiếu theo đoạn 3.(a). (b). (c), trừ khi có bằng chứng trái ngược”.
Quy tắc Hague - Visby
“4. Một đơn vận tải như trên được coi là bằng chứng người chuyên chở đã nhận hàng hóa như miêu tả chiếu theo đoạn 3. (a). (b). (c), trừ khi có bằng chứng trái ngược. Tuy nhiên bằng chứng trái ngược không được thừa nhận khi đơn vận tải đã được chuyển cho người thứ ba hành động trung thực".
6.2. Theo Quy tắc Hague
Vận đơn đưòng biển là một văn bản có tính chất hợp đồng và yêu cầu số liệu ghi trên đó phải rất chính xác. Có như vậy thì vận tải đơn mới có đầy đủ giá trị của một chứng chỉ tài sản, đủ tín nhiệm khi đem nó đi giao dịch. Tuy nhiên, khi lập vận đơn thì thuyền trưởng chỉ có thể căn cứ vào những mã ký hiệu, số lượng, trọng lượng do người gửi hàng khai mà thôi, lời khai đó đúng hay sai thì nhiều khi không thể kiểm tra được. Do đó, Quy tắc Hague quy định sự đúng đắn của lời khai của người gửi hàng chỉ là một sự suy đoán, nếu lời khai đó sai thì chủ tàu có quyền chứng minh sự sai đó và nếu chứng minh được thì chủ tàu sẽ được miễn trách nhiệm về những thiệt hại do sự khai sai đó gây ra. Tương ứng như vậy, vận tải đơn chỉ là bằng chứng ban đầu cho việc người chuyên chở đã nhận hàng như đã mô tả và xếp xuống tàu, vận tải đơn không phải là một bằng chứng có tính chất quyết định và có thể bị phủ nhận bởi những bằng chứng khác có những điểm ngược lại. Ví dụ: Tàu nhận 100 kiện hàng, người xếp chỉ giao 99 kiện và thuyền trưởng vẫn cấp vận đơn cho 100 kiện. Khi giao hàng người nhận hàng khiếu nại về kiện hàng thiếu nếu chủ tàu tìm được chứng cứ là người xếp hàng đã giao thiếu. Ví dụ, phiếu kiểm kiện (tally's sheet) ghi rõ là chỉ giao 99 kiện thì chủ tàu được miễn trách nhiệm về kiện hàng thiếu. Thực trạng hàng chỉ có 99 kiện nhưng thuyền trưởng căn cứ vào lời khai của người xếp hàng và ghi vào vận đơn là 100 kiện thì đó là một khuyết điểm nhưng khuyết điểm đó chỉ là một sự nhầm lẫn có thể châm chước được. Tham chiếu vụ Grant kiện Norway năm 1851 đã được phán quyết là "... không có người thuyền trưởng hoặc đại lý nào có thể buộc người chủ tàu phải chịu trách nhiệm bằng cách ký vận tải đơn cho những hàng hóa thực tế chưa hề được xếp lên tàu, do đó số lượng hàng hóa đã được xếp lên tàu không cấm người chủ tàu phủ nhận". Điều này cho phép chủ tàu có thể bác lại số lượng trên cơ sở những chứng từ có khả năng tranh chấp như phiếu kiểm đếm hàng hóa, giấy biên nhận của sỹ quan tàu...
6.3. Theo Quy tắc Hague - Visby
Nguyên tắc chứng minh ngược lại của chủ tàu nhiều khi gây thiệt thòi cho người mang vận đơn và làm giảm sự tin tưởng của giới thương mại đối với tờ vận đơn. Đặc biệt không thỏa đáng khi người mang vận đơn là người thứ ba không hay biết việc giao hàng đã xảy ra như thế nào. Trong buôn bán ngoại thương nhiều khi người ta chỉ buôn bán chứng từ mà không nhìn thấy hàng hóa và chứng từ chủ yếu là tờ vận đơn đường biển. Các ngân hàng khi giao dịch hay trả tiền cũng chỉ hoàn toàn căn cứ vào chứng từ mà không nhìn thấy hàng hóa. Muốn có đầy đủ giá trị như vậy thì vận tải đơn phải là một bằng chứng quan trọng, số liệu của vận đơn phải là bất di bất dịch. Để bảo vệ uy tín thương mại cho tờ vận đơn đưòng biển, đồng thời buộc tàu phải kiểm tra kỹ khi bốc hàng và phát hành vận đơn, Quy tắc Hague - Visby đã sửa đổi lại bằng việc quy định rằng, khi vận tải đơn đã được ký hậu cho người thứ ba làm việc trung thực thì bằng chứng ngược lại không được thừa nhận, hay nói cách khác người chuyên chở sẽ mất quyền chứng minh ngược lại.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập