Quyền tác giả là một trong những quyền sở hữu trí tuệ quan trọng, bảo vệ thành quả sáng tạo của cá nhân, tổ chức đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Tuy nhiên, tình trạng sao chép, sử dụng trái phép tác phẩm vẫn diễn ra khá phổ biến, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Để bảo đảm môi trường sáng tạo lành mạnh, pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều chế tài xử lý đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả. Vậy vi phạm quyền tác giả bị xử phạt như thế nào và mức xử phạt được quy định ra sao?

1. Vi phạm quyền tác giả là gì?

Căn cứ khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: "Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu." Quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được tạo ra dưới hình thức vật chất nhất định mà không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Chủ thể của quyền tác giả có thể là chính tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được chuyển giao, thừa kế hoặc sở hữu hợp pháp tác phẩm. Việc ghi nhận quyền tác giả góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo và bảo đảm lợi ích chính đáng của chủ thể quyền.

Quyền tác giả không chỉ bảo vệ mối liên hệ tinh thần giữa tác giả với tác phẩm mà còn bảo vệ các lợi ích vật chất phát sinh từ việc khai thác tác phẩm. Theo quy định của pháp luật, đối tượng được bảo hộ là những tác phẩm do con người sáng tạo bằng lao động trí tuệ và được thể hiện dưới hình thức nhất định. Thông qua cơ chế bảo hộ này, tác giả và chủ sở hữu có quyền kiểm soát việc sử dụng, sao chép, công bố hoặc khai thác tác phẩm của mình. Đồng thời, quyền tác giả cũng tạo cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm, sử dụng tác phẩm trái phép. Nhờ đó, môi trường sáng tạo được bảo đảm công bằng và thúc đẩy sự phát triển của đời sống văn hóa, khoa học trong xã hội.

Từ đó, có thể hiểu: Vi phạm quyền tác giả là hành vi của tổ chức, cá nhân xâm phạm trái phép các quyền này mà không được sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp pháp luật cho phép.

Nói cách khác, Vi phạm quyền tác giả là hành vi chiếm đoạt, sử dụng, khai thác hoặc làm ảnh hưởng đến tác phẩm trái với ý chí của chủ thể quyền, làm tổn hại đến quyền lợi hợp pháp của họ. Vi phạm quyền tác giả là một dạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, xảy ra khi có đủ các yếu tố:

  • Tác phẩm đang được bảo hộ quyền tác giả;
  • Có hành vi sử dụng hoặc khai thác tác phẩm;
  • Chủ thể thực hiện hành vi không phải là chủ sở hữu hoặc không được phép sử dụng;
  • Hành vi đó không thuộc các trường hợp ngoại lệ được pháp luật cho phép

Pháp luật Việt Nam không chỉ định nghĩa chung mà còn liệt kê cụ thể các hành vi vi phạm tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ. Một số hành vi điển hình bao gồm:

  • Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm;
  • Mạo danh tác giả;
  • Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép;
  • Sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín tác giả;
  • Sao chép tác phẩm trái phép (kể cả dưới dạng điện tử);
  • Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép;
  • Sử dụng tác phẩm không trả tiền nhuận bút, thù lao;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua internet hoặc phương tiện kỹ thuật số mà không được phép

Trong thực tế, các hành vi vi phạm diễn ra rất phổ biến, đặc biệt trên môi trường internet, như:

  • Sao chép bài viết, nội dung website mà không ghi nguồn;
  • Sử dụng hình ảnh từ Google cho mục đích thương mại;
  • Reup video, phim, nhạc trên nền tảng số;
  • Sử dụng phần mềm không có bản quyền.

Các hành vi này đều có thể bị coi là vi phạm nếu không đáp ứng điều kiện sử dụng hợp pháp theo Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Vi phạm quyền tác giả bị phạt như thế nào?

Vi phạm quyền tác giả tại Việt Nam có thể chịu ba loại trách nhiệm pháp lý song song gồm: hành chính, dân sự và hình sự, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, cụ thể như sau:

2.1. Biện pháp dân sự

Căn cứ Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

Điều 202. Các biện pháp dân sự

Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

2. Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

3. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

4. Buộc bồi thường thiệt hại;

5. Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.

6. Buộc tiêu hủy hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định; buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng để sản xuất hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

7. Buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Theo đó, người vi phạm bị buộc chấm dứt hành vi xâm phạm nhằm ngăn ngừa hậu quả tiếp tục xảy ra. Tùy từng trường hợp, bên vi phạm còn phải xin lỗi, cải chính công khai để khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Đồng thời, Tòa án có thể buộc người vi phạm thực hiện các nghĩa vụ dân sự phát sinh theo quy định của pháp luật. Nếu hành vi xâm phạm gây thiệt hại thì người vi phạm phải bồi thường đầy đủ cho chủ thể quyền bị xâm phạm.

Ngoài việc khắc phục hậu quả về quyền và lợi ích của chủ thể quyền tác giả, Tòa án còn áp dụng các biện pháp đối với tang vật, phương tiện và nội dung vi phạm. Cụ thể, hàng hóa sao chép lậu có thể bị buộc tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên liệu, vật liệu và phương tiện dùng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm, Tòa án có thể buộc tiêu hủy hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại nếu không ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền.

Bên cạnh đó, thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc địa chỉ Internet liên quan đến hành vi xâm phạm cũng có thể bị buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa quyền truy cập. Những biện pháp này góp phần bảo đảm hiệu quả bảo vệ quyền tác giả trong cả môi trường thực tế và môi trường số.

2.2. Biện pháp hành chính

Biện pháp hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả được áp dụng thông qua việc xử phạt bằng tiền với nhiều mức khác nhau tùy tính chất vi phạm. Theo Điều 7, 8, 9, 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định về mức phạt hành chính khi vi phạm quyền tác giả như sau:

  • Hành vi không ghi hoặc ghi sai tên tác giả bị phạt từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng,
  • Hành vi xâm phạm quyền đặt tên tác phẩm bị phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
  • Hành vi mạo danh tác giả, giả mạo tên hoặc chữ ký của tác giả bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
  • Hành vi tự ý sửa đổi, cắt xén tác phẩm gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng,
  • Hành vi xuyên tạc tác phẩm bị phạt từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng.
  • Hành vi công bố tác phẩm khi chưa được phép của chủ sở hữu quyền tác giả bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.
  • Cá nhân sao chép tác phẩm trái phép có thể bị phạt từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, còn tổ chức vi phạm có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. 

Ngoài hình phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc xin lỗi, cải chính thông tin sai sự thật, gỡ bỏ hoặc tiêu hủy bản sao vi phạm và hoàn trả số lợi bất hợp pháp đã thu được. Những biện pháp này góp phần khắc phục hậu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền tác giả. 

2.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Đối với các hành vi có tính chất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn hoặc thu lợi bất chính đáng kể, pháp luật quy định trách nhiệm hình sự theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

Trước hết, về dấu hiệu pháp lý để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp luật quy định người vi phạm phải có hành vi xâm phạm quyền tác giả một cách cố ý và không được phép của chủ thể quyền, đồng thời thỏa mãn các điều kiện định lượng nhất định. Cụ thể, theo Điều 225, hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên;
  • Gây thiệt hại cho chủ thể quyền từ 100 triệu đồng trở lên;
  • Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên;
  • Thực hiện hành vi với quy mô thương mại.

Như vậy, không phải mọi hành vi vi phạm bản quyền đều bị xử lý hình sự, mà phải đạt “ngưỡng hình sự hóa” theo quy định. 

Về các hành vi cấu thành tội phạm, Điều 225 chủ yếu điều chỉnh các hành vi phổ biến như: sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng mà không được phép; khai thác tác phẩm nhằm mục đích thương mại; hoặc các hành vi xâm phạm quyền liên quan (phim, nhạc, chương trình phát sóng…). Điểm đáng chú ý là yếu tố “quy mô thương mại” hoặc “thu lợi bất chính” giữ vai trò quyết định trong việc chuyển hóa từ vi phạm hành chính sang trách nhiệm hình sự, phản ánh chính sách hình sự tập trung xử lý các hành vi có tính chất kinh doanh, trục lợi.

Về khung hình phạt đối với cá nhân, pháp luật quy định hai mức chính. Ở khung cơ bản, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đến 300 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Trường hợp nghiêm trọng hơn (ví dụ: thu lợi lớn, gây thiệt hại lớn, tái phạm…), người phạm tội có thể bị phạt tù đến 03 năm . Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền bổ sung, cấm hành nghề hoặc đảm nhiệm chức vụ nhất định theo quy định chung của Bộ luật Hình sự.

Đối với pháp nhân thương mại, Bộ luật Hình sự 2015 đã có bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên quy định chủ thể này cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội xâm phạm quyền tác giả. Theo khoản 4 Điều 225, pháp nhân vi phạm có thể bị phạt tiền lên đến 3 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn, tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả gây ra . Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các hành vi vi phạm bản quyền hiện nay thường được thực hiện có tổ chức, quy mô lớn thông qua doanh nghiệp hoặc nền tảng số.

3. Cách xác định có vi phạm quyền tác giả hay không?

Để xác định một hành vi có vi phạm quyền tác giả hay không, pháp luật Việt Nam đặt ra các tiêu chí pháp lý rõ ràng dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022). Việc đánh giá không chỉ dựa trên cảm tính “có sao chép hay không”, mà phải xem xét tổng hợp nhiều yếu tố cấu thành hành vi xâm phạm, đặc biệt được quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ.

Trước hết, cần xác định đối tượng bị xâm phạm phải là tác phẩm đang được bảo hộ quyền tác giả. Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các loại hình tác phẩm được bảo hộ bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; tác phẩm báo chí; âm nhạc; điện ảnh; phần mềm máy tính… Đồng thời, theo Điều 6, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký. Do đó, chỉ cần tác phẩm đáp ứng tính sáng tạo và được định hình, thì việc sử dụng trái phép đã có thể bị xem xét là vi phạm.

Tiếp theo, cần xác định có tồn tại hành vi khai thác, sử dụng tác phẩm hay không. Hành vi này có thể biểu hiện dưới nhiều dạng như: sao chép, phân phối, truyền đạt đến công chúng, làm tác phẩm phái sinh, đăng tải trên internet… Đây là yếu tố “hành vi khách quan” của vi phạm. Nếu không có hành vi sử dụng hoặc tác động đến tác phẩm, thì không thể đặt vấn đề vi phạm quyền tác giả.

Chủ thể thực hiện hành vi có quyền hay không có quyền sử dụng tác phẩm. Theo quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tài sản thuộc về tác giả/chủ sở hữu, và người khác chỉ được khai thác khi có sự cho phép hoặc thông qua hợp đồng, chuyển nhượng, cấp phép. Nếu cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm mà không được sự đồng ý hợp pháp hoặc không trả nhuận bút, thù lao theo quy định, thì đây là dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm.

Không phải mọi trường hợp sử dụng không xin phép đều bị coi là vi phạm. Pháp luật quy định một số ngoại lệ hợp pháp tại Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ (đã được sửa đổi), cho phép sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép, ví dụ: trích dẫn hợp lý nhằm mục đích bình luận, nghiên cứu; sử dụng trong giảng dạy; sao chép một bản cho mục đích cá nhân, không thương mại… Do đó, khi xác định vi phạm, cần đối chiếu xem hành vi có thuộc trường hợp ngoại lệ hay không. Nếu thuộc ngoại lệ hợp pháp, thì không bị coi là xâm phạm dù không xin phép.

Cần xem xét yếu tố thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại đối với chủ thể quyền. Mặc dù không phải mọi hành vi vi phạm đều phải chứng minh thiệt hại mới bị xử lý hành chính, nhưng trong thực tiễn, việc xác định mức độ ảnh hưởng (mất doanh thu, ảnh hưởng uy tín, lan truyền rộng rãi…) là căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất vi phạm và áp dụng chế tài tương ứng, đặc biệt trong trách nhiệm dân sự và hình sự.

Pháp luật còn nhấn mạnh đến lỗi của chủ thể vi phạm, thường là lỗi cố ý. Người vi phạm biết hoặc phải biết hành vi của mình là sử dụng tác phẩm không hợp pháp nhưng vẫn thực hiện. Trong môi trường số, yếu tố này thường được suy đoán thông qua hành vi cụ thể như: gỡ watermark, reup có chỉnh sửa, sử dụng cho mục đích thương mại… Đây là căn cứ để xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi.

Từ các phân tích trên, có thể khái quát rằng một hành vi bị coi là vi phạm quyền tác giả khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện: (i) tác phẩm được bảo hộ; (ii) có hành vi sử dụng tác phẩm; (iii) không được phép của chủ sở hữu; (iv) không thuộc trường hợp sử dụng hợp pháp theo luật. Việc xác định đúng các yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, giúp phân biệt rõ giữa hành vi hợp pháp và hành vi xâm phạm, từ đó hạn chế rủi ro pháp lý cho cá nhân, doanh nghiệp khi khai thác và sử dụng tác phẩm.

4. Cách phòng tránh vi phạm quyền tác giả

Để phòng tránh vi phạm quyền tác giả, cá nhân và tổ chức cần tuân thủ các nguyên tắc pháp lý được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022, 2025).  Cụ thể:

- Chỉ sử dụng tác phẩm khi có căn cứ pháp lý hợp lệ.

Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền khai thác tác phẩm như sao chép, phân phối, truyền đạt đến công chúng, làm tác phẩm phái sinh… thuộc quyền độc quyền của tác giả hoặc chủ sở hữu. Do đó, để tránh vi phạm, người sử dụng phải xin phép trước và được sự đồng ý rõ ràng thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận cấp phép, đồng thời thực hiện nghĩa vụ trả nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định. Việc sử dụng “miễn phí” nhưng không có sự cho phép hợp pháp vẫn bị coi là xâm phạm.

- Nhận diện và tuân thủ các trường hợp sử dụng hợp pháp không phải xin phép theo Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ.

Ví dụ, pháp luật cho phép trích dẫn hợp lý tác phẩm để bình luận, minh họa trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học; hoặc sử dụng cho mục đích cá nhân, không thương mại. Tuy nhiên, các trường hợp này vẫn phải đáp ứng điều kiện như không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm và không gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả/chủ sở hữu, đồng thời phải ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc tác phẩm. Việc hiểu sai hoặc lạm dụng “trích dẫn hợp lý” là nguyên nhân phổ biến dẫn đến vi phạm.

- Kiểm tra nguồn gốc và tình trạng pháp lý của tác phẩm trước khi sử dụng.

Trong môi trường số, nhiều nội dung (hình ảnh, video, bài viết, phần mềm) được chia sẻ rộng rãi nhưng không đồng nghĩa với việc được sử dụng tự do. Người sử dụng cần xác định rõ: tác phẩm có thuộc phạm vi bảo hộ hay không, có giấy phép sử dụng (license) hay không, và điều kiện sử dụng cụ thể là gì (ví dụ: chỉ dùng phi thương mại, phải ghi nguồn…). Đây là bước “thẩm định pháp lý” cần thiết để tránh rủi ro.

- Thiết lập cơ chế quản trị nội bộ đối với doanh nghiệp.

Các tổ chức nên xây dựng quy trình kiểm duyệt nội dung, đào tạo nhân sự về bản quyền, sử dụng thư viện tài nguyên hợp pháp (stock có license, phần mềm bản quyền), và lưu trữ hồ sơ chứng minh quyền sử dụng (hợp đồng, hóa đơn, giấy phép). Điều này không chỉ giúp phòng tránh vi phạm mà còn là căn cứ quan trọng để chứng minh tính hợp pháp khi có tranh chấp.

- Đăng ký quyền tác giả và áp dụng biện pháp bảo vệ.

Mặc dù quyền tác giả phát sinh tự động theo Điều 6, nhưng việc đăng ký sẽ tạo chứng cứ pháp lý mạnh khi xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật như watermark, quản lý quyền số (DRM), hoặc theo dõi, phát hiện hành vi xâm phạm trên môi trường internet.

- Mọi hành vi sử dụng tác phẩm đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Việc chủ động tìm hiểu quy định, tham vấn ý kiến pháp lý khi cần thiết và xây dựng thói quen sử dụng nội dung “có nguồn gốc hợp pháp” là giải pháp bền vững nhất. Trong bối cảnh chuyển đổi số, nơi việc sao chép và lan truyền nội dung diễn ra nhanh chóng, phòng tránh vi phạm quyền tác giả không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là yếu tố then chốt để bảo vệ uy tín và sự phát triển lâu dài của cá nhân, doanh nghiệp.

Kết luận

Như vậy, vi phạm quyền tác giả là hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sáng tạo và phát triển văn hóa, khoa học trong xã hội. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi xâm phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại dân sự hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các chế tài này không chỉ nhằm xử lý người vi phạm mà còn góp phần răn đe, phòng ngừa các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thực tế.

Do đó, mỗi cá nhân, tổ chức cần nâng cao ý thức tôn trọng quyền tác giả khi sử dụng tác phẩm của người khác. Đồng thời, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả cũng cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Việc xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật về quyền tác giả sẽ góp phần tạo nên môi trường sáng tạo lành mạnh, công bằng và bền vững.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.