1. Thủ tục rút gọn là gì?

Thủ tục rút gọn là một dạng đặc biệt của tố tụng hình sự, trong đó có sự giảm lược bớt một số khâu, một số thủ tục không cần thiết trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm rút ngắn thủ tục tố tụng, làm cho việc xử lý vụ án được nhanh chóng hơn nhưng vẫn đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 

2. Thời hạn để điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn

Vấn đề thời hạn tạm giữ, tạm giam và thời hạn điều tra, truy tố, xét xử trong thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc khó khăn khi áp dụng thủ tục này trong thực tiễn, làm cho cơ quan tiến hành tố tụng ít áp dụng thủ tục này. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi theo hướng tăng thời hạn điều tra, thời hạn truy tố, thời hạn xét xử, theo đó, cũng tăng thời hạn tạm giam cho tương ứng. Cụ thể: thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra là 20 ngày (tăng 08 ngày); thời hạn truy tố và tạm giam để truy tố là 05 ngày (tăng 01 ngày); thời hạn xét xử sơ thẩm và tạm giam để xét xử là 17 ngày (tăng 3 ngày); thời hạn xét xử phúc thẩm và tạm giam để xét xử là 22 ngày (mới được quy định).

- Thời hạn điều tra: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn theo quy định BLTTHS năm 2003 là 12 ngày; thời hạn này theo luật mới được tăng lên thành 20 ngày. Thời hạn được tính kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

- Thời hạn truy tố: Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì sau khi nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án của Cơ quan Điều tra thì Viện kiểm sát tiến hành xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án và trong thời hạn không quá bốn ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định sau: truy tố bị can trước Toà án bằng quyết định truy tố, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án. Quy định BLTTHS hiện hành là 05 ngày.

- Thời hạn xét xử sơ thẩm: Là 14 (mười bốn) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án theo bộ luật cũ và 17 ngày theo quy định của BLTTHS năm 2015. Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng; tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên toà, “trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án”.

-Thời hạn xét xử phúc thẩm: BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn là 22 ngày. Như đã nói ở trên, đây là quy định mới, khắc phục sự thiếu sót của BLTTHS năm 2003.

Việc tăng thời hạn giải quyết vụ án cùng thời hạn tạm giam ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nhằm bảo đảm đủ thời hạn để các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian giải quyết vụ án một cách chính xác, phù hợp với thực tế và cũng là cơ sở để cơ quan tố tụng tích cực áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.

3. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn

Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang). Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền của mình hay người có thẩm quyền quy định tại BLTTHS được áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn nêu trên khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hay có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội. Trong thủ tục rút gọn, các biện pháp này đều có thể được áp dụng (trừ bắt người trong trường hợp khẩn cấp vì vụ án theo thủ tục rút gọn chỉ là bắt người phạm tội quả tang).

Thủ tục rút gọn được áp dụng đối với các vụ án phạm tội quả tang, người phạm tội đầu thú, trong thực tế tạm giữ là biện pháp được áp dụng phổ biến với các vụ án. Các quy định về căn cứ, thẩm quyền và trình tự áp dụng biện pháp tạm giữ được tiến hành theo thủ tục chung. Thời hạn tối đa không quá 3 ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt, không được gia hạn tạm giữ.

Việc áp dụng biện pháp tạm giam cũng phải tuân thủ các quy định về căn cứ, trình tự, thẩm quyền như thủ tục tạm giam bình thường. Về nguyên tắc thời hạn tạm giam không vượt quá thời hạn tiến hành điều tra, truy tố, xét xử. BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn tiến hành tố tụng theo thủ tục tố tụng là 30 ngày (trong đó điều tra 12 ngày, truy tố 4 ngày, xét xử 14 ngày) do đó thời hạn tạm giam tối đa là 30 ngày. Điều 459 BLTTHS năm 2015 mở rộng thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra không quá 20 ngày, trong giai đoạn truy tố không quá 05 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày.

4. Ưu và nhược điểm của việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án hình sự

Việc quy định các thủ tục rút gọn nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống tội phạm, giải quyết được tình trạng quá tải của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc phát hiện, xử lý tội phạm bằng thủ tục rút gọn nhanh chóng kịp thời còn đáp ứng mục đích giáo dục, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội trong những hoàn cảnh đặc biệt. Mặt khác, việc này cũng nhằm tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí của Nhà nước trong việc giải quyết các vụ án mà tội phạm ít nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng, không có các tình tiết phức tạp.... Thêm vào đó, việc áp dụng thủ tục rút gọn sớm khắc phục được hậu quả do tội phạm gây ra, bảo vệ quyền lợi của người bị hại khi công lý sớm được thực thi. Đồng thời, tạo cơ hội cho người phạm tội được nhanh chóng thi hành án, sớm trở lại hòa nhập cộng đồng.

Tuy có những ưu điểm như đã nói trên, việc áp dụng thủ tục rút gọn còn có một số nhược điểm như do thời gian ngắn, lược bỏ một số thủ tục nên việc áp dụng thủ tục này nếu không tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về thủ tục rút gọn dễ xảy ra việc giải quyết vụ án không khách quan, thu thập chứng cứ không đầy đủ.

Nhận thức nếu không đúng sẽ ảnh hưởng đến quyền của bị can, bị cáo. Đặc biệt, để áp dụng thủ tục rút gọn đảm bảo đúng mục đích, ý nghĩa còn đòi hỏi rất cao về trình độ, năng lực, phẩm chất của những người tiến hành tố tụng. Bởi lẽ, trong việc áp dụng thủ tục rút gọn dễ nảy sinh tâm lý nóng vội, chủ quan muốn nhanh chóng giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Để khắc phục những nhược điểm này, cần phải tăng cường công tác kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, tăng cường hoạt động tố tụng hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân, tăng cường vai trò giám xã hội đối với các vụ án tiến hành theo thủ tục rút gọn...

Đặc biệt, phải nhấn mạnh nguyên tắc dù áp dụng thủ tục rút gọn nhưng vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc của tố tụng hình sự, đảm bảo xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ.

5. Vì sao các vụ án áp dụng thủ tục rút gọn chưa nhiều?

Bộ luật Tố tụng Hình sự đã quy định đầy đủ, chặt chẽ về thủ tục rút gọn, nhưng trên thực tế các vụ án áp dụng thủ tục này chưa nhiều bởi một số lý do.

Trước hết là do các cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng việc áp dụng thủ tục rút gọn là không bắt buộc nên để đảm bảo “an toàn” họ có sự thận trọng nhất định.

Bên cạnh đó, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn rất chặt chẽ nên số lượng các vụ án đảm bảo đủ tất cả các điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn không nhiều. Với thời hạn giải quyết vụ án ngắn nên thủ tục rút gọn dễ đem đến rủi ro, những sai sót trong quá trình tố tụng dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến nhận thức, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở nhiều nơi không thống nhất trong việc áp dụng thủ tục rút gọn cũng là nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng thủ tục rút gọn chưa phổ biến.

Việc cơ quan tiến hành tố tụng ở một số tỉnh, thành phố áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19 vừa qua cho thấy, các ưu đểm của thủ tục rút gọn đã được thể hiện rõ ràng, đầy đủ và tập trung nhất.

Ý nghĩa to lớn nhất là nó đã góp phần vào việc giáo dục, răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến đại dịch này, góp phần không nhỏ vào nỗ lực của Chính phủ, của toàn xã hội trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 rất kịp thời, hiệu quả; đồng thời vẫn đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thủ tục rút gọn về điều kiện, thời hạn, thủ tục.

Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng, trong hoàn cảnh nào cũng đều phải nhận thức thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt chỉ áp dụng khi có đầy đủ căn cứ, điều kiện luật định và phải tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)