Lịch sử thành lập ASEAN

Tiền thân của ASEAN là một tổ chức được thành lập vào ngày 31 tháng 7 năm 1961 có tên là Hiệp hội Đông Nam Á ( ASA ), một nhóm bao gồm Thái Lan , Philippines và Liên bang Malaya .  Bản thân ASEAN được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967, khi bộ trưởng ngoại giao của 5 nước: Indonesia , Malaysia , Philippines , Singapore và Thái Lan , ký Tuyên bố ASEAN . Như đã nêu trong Tuyên bố, các mục tiêu và mục đích của ASEAN là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực, thúc đẩy hòa bình khu vực, hợp tác và tương trợ trong các vấn đề cùng quan tâm, hỗ trợ lẫn nhau dưới hình thức các cơ sở đào tạo và nghiên cứu, hợp tác để sử dụng tốt hơn nông nghiệp và công nghiệp nhằm nâng cao mức sống của người dân, thúc đẩy các nghiên cứu về Đông Nam Á và duy trì hợp tác chặt chẽ, có lợi với các tổ chức quốc tế hiện có có cùng mục đích và mục đích .

Việc thành lập ASEAN được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi chung về chủ nghĩa cộng sản .  Nhóm đã đạt được sự gắn kết hơn vào giữa những năm 1970 sau sự thay đổi cán cân quyền lực sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975. Sự tăng trưởng kinh tế năng động của khu vực trong những năm 1970 đã củng cố tổ chức, cho phép ASEAN áp dụng một phản ứng thống nhất. để xâm lược Campuchia của Việt Nam trong cuộc họp hội nghị thượng đỉnh đầu tiên năm 1979. ASEAN, tổ chức tại Bali , Indonesia vào năm 1976, dẫn đến một thỏa thuận về một số dự án công nghiệp và việc ký kết một Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác và Tuyên bố của Concord. Chiến tranh lạnh kết thúccho phép các nước ASEAN thực hiện độc lập chính trị nhiều hơn trong khu vực, và trong những năm 1990, ASEAN đã nổi lên như một tiếng nói hàng đầu trong các vấn đề thương mại và an ninh khu vực .  Ngày 15 tháng 12 năm 1995, Hiệp ước khu vực không có vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á được ký kết nhằm biến Đông Nam Á thành một khu vực không có vũ khí hạt nhân . Hiệp ước có hiệu lực vào ngày 28 tháng 3 năm 1997 nhưng một trong các quốc gia thành viên đã phê chuẩn nó. Nó có hiệu lực hoàn toàn vào ngày 21 tháng 6 năm 2001 sau khi Philippines phê chuẩn nó, cấm tất cả vũ khí hạt nhân trong khu vực một cách hiệu quả

1.Việt Nam tham gia ASEAN 

 Khu vực thương mại tự do ASEAN (‘AFTA’) và Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (‘CEPT’) Việt Nam tham gia AFTA, thực hiện CEPT từ ngày 1/1/1996 và cam kết giảm thuế quan đối với 6.130 mặt hàng xuống 0-5% trước ngày 1/1/2006. Danh mục hàng hoá thực hiện CEPT của Việt Nam được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản sau đây: - Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách; - Bảo hộ hợp lí sản xuất nội địa; - Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kĩ thuật và đổi mới công nghệ cho sản xuất nội địa; - Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Tại thời điểm nêu trên, Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ giảm thuế quan theo cam kết. Tính đến năm 2010, Việt Nam đã hoàn thành giảm thuế nhập khẩu cho 10.054 dòng thuế xuống mức 0-5%, chiếm 97,8% số dòng thuế, trong đó có 5.488 dòng thuế ở mức thuế suất 0%.

2. Việt Nam tham gia xây dựng và phát triển

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Những năm gần đây, các nước thành viên ASEAN đã tích cực đẩy mạnh tiềm năng, thế mạnh của ASEAN. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a vào tháng 10/2003, lãnh đạo của 10 nước ASEAN đã kí kết Tuyên bố hoà hợp ASEAN II (còn gọi là Tuyên bố Ba-li II) thông qua khuôn khổ xây dựng Cộng đồng ASEAN, bao gồm ba trụ cột là Cộng đồng an ninh-chính trị, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hoá-xã hội. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13 tại Xinh-ga-po tháng 11/2007, ASEAN đã thông qua Kế hoạch tổng thể và lộ trình chiến lược thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN (‘AEC’), được coi là ‘kim chỉ nam’ của ASEAN cho mục tiêu thiết lập AEC. Năm 2009, năm đầu tiên Hiến chương ASEAN được thực hiện với nhiều mục tiêu, trong đó có việc xây dựng một Cộng đồng kinh tế ASEAN (‘AEC’) vào năm 2015. ASEAN chủ trương xây dựng AEC dựa trên sự liên kết về chất giữa các ngành chủ chốt, đang có ưu thế hoặc nhiều tiềm năng phát triển trong nền kinh tế ASEAN bằng các biện pháp cụ thể như: Đẩy nhanh tự do hoá thương mại các sản phẩm, dịch vụ liên quan, hài hoà tiêu chuẩn, đơn giản hoá thủ tục hải quan, thuận lợi hoá thương mại v.v.. Một số ngành được lựa chọn ưu tiên đẩy nhanh hội nhập trong ASEAN bao gồm: Sản phẩm gỗ, nông sản, ô-tô, sản phẩm cao su, điện tử, dệt may, thủy sản, ASEAN điện tử, vận tải hàng không, du lịch và y tế. Các chương trình liên kết và tự do hoá thương mại của ASEAN trong khuôn khổ của AEC đều được thể chế hoá bằng các hiệp định như: Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN (‘ATIGA’), thay thế cho CEPT; Hiệp định khung về thương mại dịch vụ của ASEAN (‘AFAS’); Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (‘ACIA’)… Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia xây dựng AEC với thái độ chủ động và tích cực: - Đến năm 2010, Việt Nam đã giảm thuế nhập khẩu cho 10.054 dòng thuế xuống mức 0-5% theo CEPT/AFTA, chiếm 97,8% số dòng thuế trong biểu thuế, trong đó có 5.488 dòng thuế ở mức thuế suất 0%. - Việt Nam sẽ hoàn thành việc chuyển dần các sản phẩm trong Danh mục nhạy cảm vào Kế hoạch cắt giảm thuế theo Hiệp định CEPT và giảm thuế quan đối với những sản phẩm này xuống mức 0-5% vào ngày 1/1/2013. - Việt Nam tham gia hợp tác một cách toàn diện với các nước thành viên ASEAN trong các lĩnh vực như: Thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, giao thông vận tải, viễn thông, bảo hộ IPRs, chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng. Đến nay, Việt Nam là một trong bốn thành viên ASEAN có tỉ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong Lộ trình tổng thể thực hiện AEC. - AEC vẫn được Việt Nam lựa chọn là một nội dung quan trọng nhất trong Chương trình nghị sự của ASEAN trong năm 2010. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 16 tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Việt Nam, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ra Tuyên bố về phục hồi và phát triển bền vững, khẳng định quyết tâm củng cố và xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015. Hội đồng AEC nhất trí xây dựng công cụ mới là Biểu đánh giá thực hiện AEC là một cơ chế giám sát minh bạch và chặt chẽ tiến độ thực hiện AEC của từng thành viên. Năm 2010, lần đầu tiên, Biểu đánh giá AEC cho giai đoạn 2007-2010 đã được hoàn thành.

3. Việt Nam tham gia chương trình loại bỏ các biện pháp phi thuế quan (NTBs)

Song song với Chương trình giảm thuế quan, Việt Nam cần phối hợp với các nước ASEAN triển khai Chương trình loại bỏ các NTBs. Cụ thể như: - Các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu (quota, cấm nhập khẩu) được loại bỏ khi thuế suất của mặt hàng đó đã được giảm xuống dưới 20% theo lộ trình giảm thuế quan; - Các NTBs khác được loại bỏ dần trong vòng 5 năm tiếp theo, nhưng không muộn hơn năm 2006. Các NTBs đã được Việt Nam loại bỏ tương đối nhanh. Trước năm 2000, Việt Nam áp dụng khá nhiều NTBs để quản lí xuất nhập khẩu nông sản như: Đầu mối và hạn ngạch xuất khẩu đối với gạo; giấy phép nhập khẩu đối với gạo, cà phê; đầu mối xuất khẩu cao su tại cửa khẩu đối với Trung Quốc; hạn chế nhập khẩu ngoại tệ đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng. Đến năm 2006, về cơ bản Việt Nam hoàn thành việc loại bỏ các biện pháp hạn chế số lượng đối với hàng hoá trao đổi trong khuôn khổ Hiệp định CEPT và tiến tới loại bỏ các NTBs khác. Việt Nam chỉ còn áp dụng biện pháp giấy phép theo chế độ hạn ngạch thuế quan đối với bốn mặt hàng: Muối, đường (tinh luyện, thô), trứng gia cầm và thuốc lá nguyên liệu  . Việc loại bỏ các NTBs cũng là một trong các nội dung quan trọng của tiến trình AEC. Các nước thành viên ASEAN, trong đó có Việt Nam, sẽ tập trung vào việc loại bỏ hoàn toàn các NTBs vào năm 2015, đặc biệt tăng cường tính minh bạch trong việc phát triển và ứng dụng các tiêu chuẩn kĩ thuật và thủ tục đánh giá tính hợp chuẩn phù hợp với Hiệp định TBT và Hướng dẫn chính sách ASEAN về tiêu chuẩn và hợp chuẩn.

4. Việt Nam tham gia chương trình thống nhất hoạt động hải quan

Việt Nam đã tham gia tích cực Chương trình thống nhất hoạt động hải quan của ASEAN với các nội dung cụ thể sau đây: - Điều hoà thống nhất danh mục biểu thuế: Từ ngày 1/7/2003, Việt Nam áp dụng Danh mục biểu thuế quan chung trong ASEAN (viết tắt là ‘AHTN’), thay cho Danh mục biểu thuế quan hiện hành để tính thuế đối với hàng xuất nhập khẩu (xây dựng hệ thống danh mục biểu thuế ASEAN thống nhất ở cấp độ 8 chữ số theo quy định của Công ước HS của WCO). - Điều hoà thống nhất hệ thống xác định trị giá tính thuế hải quan theo quy định của Hiệp định CVA. - Điều hoà thống nhất quy trình thủ tục hải quan: Hải quan các nước ASEAN đã thống nhất quy định về ‘hành lang xanh’, nhằm tạo thuận lợi cho hàng hoá lưu thông theo quy định của CEPT. Trong đó cơ chế ‘Một cửa ASEAN’, như các biện pháp đơn giản hoá, hài hoà hoá và tiêu chuẩn hoá thương mại và hải quan, quy trình, thủ tục hải quan cũng như áp dụng công nghệ tin học trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến thuận lợi hoá thương mại là điểm cốt yếu để thực hiện mục tiêu cuối cùng xây dựng cơ chế ‘Một cửa ASEAN’. - Triển khai Hiệp định hải quan ASEAN: Việt Nam đã ban hành Luật hải quan mới vào năm 2001, sửa đổi và bổ sung năm 2005, và các văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp với thông lệ và yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Để đẩy nhanh tiến trình xây dựng AEC, việc thực hiện Tầm nhìn hải quan ASEAN cũng được thúc đẩy hướng tới mốc thời gian là 2015.

5. Quan hệ thương mại Việt Nam-ASEAN

AEC là lựa chọn chính sách mang tầm chiến lược của ASEAN nhưng xuất phát điểm là tận dụng, khai thác tiềm năng hội nhập của mỗi nước thành viên, trong đó có Việt Nam. Xét trên phương diện chính trị, kinh tế và thương mại, ASEAN là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là động lực chủ yếu giúp nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong nhiều năm qua. Với lợi thế là một khu vực phát triển năng động, gần gũi về địa lí, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN có mức tăng trưởng cao. So với năm 2002, thương mại hai chiều ASEAN và Việt Nam đã tăng hơn 3 lần, đạt gần 30 tỉ USD vào năm 2008, chiếm 25% tổng kim ngạch của Việt Nam. Cũng trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang ASEAN là 28,4% và nhập khẩu khẩu là 27%. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN tăng từ 2,9 tỉ USD năm 2003 lên tới 8,9 tỉ USD năm 2009. Năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu sang Xinh-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin và Cam-pu-chia đều đã đạt trên 1 tỉ USD. Tính đến tháng 11/2011, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được con số ấn tượng, gần 87,2 tỉ USD, tăng 34,7% so với cùng kì năm 2010, trong đó xuất khẩu sang khu vực ASEAN tăng 30,6% so với cùng kì và nhập siêu có xu hướng giảm từ khu vực này. ASEAN giữ vững vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, vượt qua cả EU, Nhật Bản, Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực, cả về chất lượng và giá trị. Từ những mặt hàng nông sản sơ chế và nguyên, nhiên liệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô có hàm lượng chế biến thấp, Việt Nam đã xuất khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm với giá trị cao và ổn định. Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng gia nhập các câu lạc bộ các nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới về gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hàng dệt may. Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội từ hội nhập ASEAN, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt trong việc triển khai và áp dụng các cam kết của AEC.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)