1. Các biện pháp có tác dụng tương đương
Các hiệp định thương mại khu vực thường sử dụng cụm từ : “các biện pháp có hiệu quả tương đương” khi nói đến thuế quan hay hạn chế định lượng.
Đằng sau khái niệm này, sự loại bỏ thuế quan hay hạn chế định lượng không thể bị vô hiệu hoá bởi những biện pháp khác có tác dụng tương tự. Chẳng hạn các suất thuế nội địa khi đánh vào hàng hóa nhập khẩu thì có tác dụng tương đương như thuế quan. Tương tự như vậy, các rào cản phi thuế đối với thương mại chỉ tác động đến hàng hóa nhập khẩu có thể loại trừ được việc những hàng hoá này giống như hạn chế định lượng và do vậy được xử lý với cùng một phương thức như trên.
Trong khi sự tồn tại của một mức thuế quan hay một quy định về hạn chế số lượng là một sự thật hiển nhiên thì các biện pháp có tác dụng tương đương thường được nguy trang bên trong những luật lệ có vẻ hợp pháp và rất khó phát hiện và theo kiện. Chính vì thế không phải ngẫu nhiên mà nguồn phong phú nhất về những trường hợp như vậy nằm tại Toà án Tư pháp nơi EU chuyên thụ lý các vụ vi phạm do Uỷ ban đưa đến.
Các hiệp định khác không có một hệ thống tương tự để theo dõi tính phù hợp của nó bởi một cơ quan có đủ năng lực như Uỷ ban Châu Âu chẳng hạn hoặc khi có tranh chấp không được xét xử bởi một Toà án độc lập thì thuật ngữ “các biện pháp có tác dụng tương đương” thường là vẫn chĩ một khái niệm trừu tượng và ít tác dụng.
2. Hiệp định thương mại tự do là gì?
Hiệp định thương mại tự do (tiếng Anh: free trade agreement; viết tắt: FTA) là một hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới có hơn 200 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực. Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Chi Lê, hoặc Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc.
Số lượng các hiệp định thương mại tự do đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua. Từ năm 1948 đến 1994, Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đã nhận được 124 thư thông báo. Kể từ năm 1995 trên 300 hiệp định thương mại đã được ban hành.
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), số hiệp định thương mại tự do (FTA) ký kết giữa các quốc gia châu Á đã tăng từ 3 hiệp định năm 2000 lên 56 hiệp định vào cuối tháng 8 năm 2009. Mười chín trong tổng số 56 hiệp định thương mại tự do đó được ký giữa 16 nền kinh tế châu Á, một xu hướng có thể giúp cho khu vực này trở thành khối mậu dịch hùng mạnh.
3. Đôi nét về thuế quan
Thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa khi di chuyển qua cửa khẩu của một quốc gia. Thuế quan hóa là việc chuyển các biện pháp phi thuế quan thành tương đương thuế quan ràng buộc.
Thuế quan trước hết là nhằm điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Bởi vì lượng hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu phụ thuộc vào sự tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả lên xuống, nó làm giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hóa. Một bộ phận quan trọng của giá cả hàng hoá ngoại thương đó là thuế quan. Thuế quan đánh thấp hay đánh cao ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá, do đó thông qua mức thuế quan đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu người ta gián tiếp điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá.
Thuế quan có tác dụng bảo hộ thị trường nội địa vì đánh thuế cao vào những hàng hoá nhập khẩu, giúp các nhà sản xuất trong nước bằng giá rẻ có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. Đặc biệt thuế quan giúp các xí nghiệp sản xuất non trẻ ở trong nứơc có thời gian để phát triển và sinh lời nhằm có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai. Vì những xí nghiệp non trẻ thường phải chi phí ban đầu cao, chưa có thị trường rộng lớn nên những xí nghiệp này có thể bị bóp chết trong trường hợp thương mại tự do khi bị hàng nhập khẩu cạnh tranh.
Thuế quan có tác dụng tăng thu cho ngân sách quốc gia với chi phí rẻ hơn so với nhiều loại thuế tiêu dùng, vì điểm thu thuế nhập khẩu ít hơn nhiều so với các điểm của loại thuế tiêu dùng. Trong lịch sử xa xưa của Đế quốc La Mã đã từng giàu có và hùng mạnh nhờ việc đánh thuế vào hoạt động buôn bán hàng hoá bằng đường biển.
Thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất nghiệp vì sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu là do việc đánh thuế cao gây nên sẽ đòi hỏi mở thêm sản xuất tạo thêm công ăn việc làm giải quyết bớt nạn thất nghiệp trong nội địa.
Thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực đối với các bạn hàng phải nhượng bộ trong đàm phán.
=> Thuế quan là một công cụ tài chính được nhà nước sử dụng để:
– Điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu hoặc bảo hộ sản xuất trong nước.
Thuế quan là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Giá cả hàng hóa thấp hoặc cao có ảnh hưởng đến sức mua của thị trường. Và đến khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Để khuyến khích (tăng quy mô) xuất, nhập khẩu, Nhà nước áp dụng mức thuế quan thấp. Ngược lại, để hạn chế (giảm quy mô) xuất, nhập khẩu. Nhà nước áp dụng mức thuế quan cao.
– Là một nguồn thu quan trọng trong ngân sách nhà nước.
– Là công cụ để phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực với bạn hàng trong quá trình đàm phán.
4. Hạn chế số lượng trong hàng rào phi thuế quan
Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế nhằm hạn chế nhập khẩu. Tất cả các biện pháp ngoài thuế quan đều là những biện pháp phi thuế nhằm hạn chế nhập khẩu. Những biện pháp phi thuế là cách gọi một cách tổng quát các biện pháp do chính phủ đặt ra nhằm hạn chế nhập khẩu hàng hoá để bảo vệ thị trường trong nước, bao gồm các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp luật và hành chính. Các biện pháp phi thuế quan được chia thành hai loại: trực tiếp và gián tiếp.
Những biện pháp phi thuế quan trực tiếp là những hạn chế của hải quan đối với số lượng và chủng loại hàng hoá nhập khẩu, cụ thể là giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu và hạn ngạch xuất khẩu tự nguyện… Tức là những biện pháp hạn chế số lượng.
Hiệp định GATT quy định rằng, việc bảo hộ công nghiệp trong nước phải phải thông qua biện pháp thu thuế nhập khẩu chứ không phải bằng cách hạn chế số lượng và các biện pháp phi thuế quan khác. Hạn chế số lượng là việc các nước xuất nhập khẩu thực hiện hạn chế bằng cách quy định một số lượng nhất định đối với hàng hoá xuất nhập khẩu.
Hạn chế số lượng có các hình thức và cách làm chủ yếu sau đây:
– Hạn ngạch: việc quy định số lượng nhập khẩu đối với một loại hàng hoá nào đótrong một khoảng thời gian nhất định. Hạn ngạch mang tính thời vụ, nó cũng có thể áp dụng đối với một số quốc gia nhất định hoặc với tất cả các quốc gia trên thế giới.
– Giấy phép nhập khẩu: chủ yếu được phân thành chia loại: laọi 1 là giấy phép nhập khẩu có điều kiện; loại 2 là giấy phép nhập khẩu bất kỳ , tức là loại giấy phép được cấp dựa trên ý kiến của các cơ quan chủ quản.
– Những ràng buộc xuất khẩu tự nguyện: trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khi mà nước nhập khẩu đối mặt với áp lực từ việc nhập khẩu và phải quyết định đơn phương áp dụng những hạn chế, thì nước xuất khẩu phải đàm phán nhằm đạt được một thoả thuận về ràng buộc xuất khẩu tự nguyện, tức là trong một thời gian nhất định chỉ xuất khẩu theo một mức cao nhất đã định.
– Cấm: đây là loại hạn chế được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt, có thể là cấm toàn diện như cấm vận, có thể có những ngoại lệ do quy định hoặc kiến nghị của cơ quan chủ quản.
Theo quy định của Đều XI GATT 94, bất kỳ bên ký kết nào ngoài việc thu thuế và các loại phí khác, không được thiết lập hoặc duy trì các biện pháp như hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu hoặc những biện pháp khác để hạn chế hoặc ngăn cấm nhập khẩu hàng hoá từ các nước ký kết khác hoặc xuất khẩu hàng vào lãnh thổ các nước ký kết khác hoặc tiêu thụ hàng nhập khẩu.
5. Nguyyên tắc dỡ bỏ hạn chế số lượng của GATT không được áp dụng
Đối với nội dung này gồm có những điểm sau đây:
- Cấm hay hạn chế xuất khẩu tạm thời được áp dụng nhằm ngăn ngừa hay khắc phục sự khan hiếm trầm trọng về lương thực hay các sản phẩm khác trọng yếu với bên ký kết đang xuất khẩu;
- Cấm hay hạn chế xuất khẩu cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trên thị trường quốc tế;
- Hạn chế nhập khẩu bất cứ nông phẩm hay sản phẩm nghề cá nào dưới bất kỳ hình thức nào nhằm triển khai các biện pháp của chính phủ được áp dụng:
+ để hạn chế số lượng các sản phẩm nội địa tương tự được phép tiêu thụ trên thị trường hay sản xuất, hoặc là nếu không có một nền sản xuất trong nước đáng kể, thì để hạn chế số lượng một sản phảm nội đại có thể bị sản phẩm nhập khẩu trực tiếp thay thế; hoặc
+ loại trừ tình trạng dư thừa một sản phẩm nội địa tương tự, hoặc nếu không có nền sản xuất một sản phẩm nội địa tương tự , loại trừ tình trạng dư thừa một sản phẩm nhập khẩu trực tiếp thay thế, bằng cách đem số lượng dư thừa để phục vụ một nhóm người tiêu dùng miễn phí hay giảm giá dưới giá thị trường; hoặc
+ để hạn chế số lượng cho phép sản xuất với một súc sản mà việc sản xuất lại phụ thuộc trực tiếp một phần hay toàn bộ vào một mặt hàng nhập khẩu, nếu sản xuất mặt hàng đó trong nước tương đối nhỏ.
Bất kỳ một bên ký kết nào khi áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu bất cứ một sản phẩm nào được quy định trong mục 3 sẽ công bố tổng khối lượng hay tổng trị giá của sản phẩm được phép nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định trong tương lai và mọi thay đổi về số lượng hay giá trị nói trên. Hơn thế nữa, bất cứ sự hạn chế nào được áp dụng theo nội dung của tiểu mục (a) nói trên cũng không nhằm hạn chế tổng khối lượng nhập khẩu trong tương quan với tổng khối lượng được sản xuất trong nước, so với tỷ trọng hợp lý có thể có trong điều kiện không có hạn chế. Khi xác định tỷ trọng này bên ký kết cần quan tâm đúng mức tới tỷ trọng đã có trong mội thời gian đại diện trước đó hay quan tâm đến một nhân tố riêng biệt nào đó có thể đã hay đang ảnh hưởng tới sản phẩm liên quan.
Nguyên tắc dỡ bỏ hạn chế số lượng của GATT không được áp dụng trong trường hợp khi bên ký kết thực hiện hạn chế số lượng một cách tất yếu đối với việc nhập khẩu trong một thời gian ngắn nhằm bảo đảm vị trì tiền tệ đối ngoại và duy trì sự cân đối trong cán cân thanh toán, nhưng phải được Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng mức độ khó khăn của cán cân thanh toán quốc tế của nước ký kết đã đạt đến mức quy định của IMF thì mới có thể hạn chế hợp pháp số lượng nhập khẩu, không được thực hiện hạn chế số lượng mang tính phân biệt.
Hạn chế số lượng xuất nhập khẩu phải được áp dụng một cách không phân biệt. Hạn chế số lượng không phân biệt là việc nếu thực sự phải thực hiện hạn chế số lượng thì phải thực hiện trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và nguyên tắc tối huệ quốc. Theo quy định của Điều XIII GATT, trừ trường hợp cấm hoặc hạn chế nhập khẩu hàng hoá tương tự từ tất cả các bên thứ bahoặc xuất khẩu hàng hoá tương tự sang sang tất cả các nước thứ ba, còn bất kỳ bên ký kết nào cũng không được hạn chế hoặc cấm nhập khẩu hàng hoá từ nước khác, cũng như không được cấm hoặc hạn chế xuất khẩu hàng hoá sang nước khác. Việc thực hiện không phân biệt hạn chế số lượng có ba hình thức sau:
- Ap dụng hạn ngạch toàn cầu không phân biệt đối xử. Cái gọi là hạn ngạch toàn cầu là việc phân phối hạn ngạch theo trật tự xin phép trước sau của các nhà nhập khẩu, đến khi nào hết hạn ngạch thì dừng lại.
- Nếu cần phải thực hiện hạn ngạch theo quốc tịch, thì phải được bên nhập khẩu và bên xuất khẩu bàn bạc quyết định.
- Khi không thể thực hiện chế độ hạn ngạch, có thể áp dụng chế độ giấy phép, nhưng không được ra quy định trong giấy phép về nguồn gốc xuất xứ hoặc nước nhập khẩu đặc biệt nào cả.
+ Rào cản kỹ thuật
Những biện pháp phi thuế quan gián tiếp là những thủ tục hải quan được thực hiện nghiêm ngặt đối với hàng nhập khẩu hoặc những biện pháp quản lý hành chính, các hàng rào kỹ thuật để gián tiếp hạn chế hàng nhập khẩu.
Tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh kiểm dịch, bao bì hàng hoá và quy định kiểm chứg là những biện pháp được thực hiện nhằm bảo vệ sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Những quy định này hết sức phức tạp, thươìng hay thay đổi khiến cho những người xuất khẩu khó đối phó. Mục đích cuối cùng của những biện pháp này là hạn chế nhập khẩu.
Về mặt kỹ thuật các nước phát triển đưa ra những tiêu chuẩn ngày càng nghiêm ngặt, ngày càng liên quan đến nhiều mặt hàng. Hàng nhập khẩu, đặc biệt là thành phẩm, phải phù hợp với những tiêu chuẩn kỹ thuật của họ thì mới được phép nhập khẩu. Các nước phát triển ngày càng đưa ra nhiều tiêu chuẩn nghiêm khắc về kiểm dịch vệ sinh liên quan đến nhiều mặt hàng. Các nước phát triển cũng có những quy định nghiêm ngặt đối với bao bì và ghi chú trên hàng hoá.
Cùng với tự do hoá thương mại, khi mà các hàng rào thuế quan và các loại hạn chế về số lượng từng bước được cắt giảm hay loại bỏ thì những biện pháp nói trên được coi là những công cụ pháp lý tốt nhất để các nước phát triển thực hiện chính sách bảo hộ của mình.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên soạn).